TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/DS-ST
Ngày: 15–4 – 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lâm Quang Sô.
- Ông Nguyễn Quốc Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Mạch Văn Hiểu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1953. Địa chỉ: Ấp E, xã V, TP , tỉnh Hậu Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Số A N, Khu V, Phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1955. Địa chỉ: Ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn M, sinh năm: 1955. Địa chỉ: Ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cha của bà N là ông Võ Văn N1 (chết trong chiến tranh, không nhớ chính xác ngày nào) và mẹ là bà Nguyễn Thị M1 (chết năm 2012) để lại. Sau khi bà Nguyễn Thị M1 chết đến ngày 19/10/2016 các anh em thỏa thuận phân chia tài sản do bà Nguyễn Thị M1, ông Võ Văn N1 để lại. Bà Nguyễn Thị N được chia phần đất tại thửa 1842, tờ bản đồ số 8 với diện tích là 396.5m² đất tọa lạc tại ấp E, xã V, bà N đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy vào ngày 07/06/2021. Phần đất của bà N giáp ranh đất với bà Nguyễn Thị S tại thửa 1841, khi bà S cất nhà đã lấn chiếm phần đất có chiều ngang khoảng 03 mét, dài khoảng 35 mét. Trước đây bà S có cất một cái chòi nhỏ trên đất để ở nhưng cất trên phần 10 mét của bà S. Tuy nhiên, khi bà S cất nhà mới có lấn qua phần đất của bà N thì bà N không biết, do bà N ở xa, khi bà N có nhu cầu chuyển nhượng đất cho người khác mới phát hiện bà S xây dựng nhà lấn qua đất bà N. Phần đất của bà N còn lại 07 mét, bà S cũng tự ý sử dụng và bao chiếm, không cho bà N sử dụng.
Theo đơn khởi kiện bà N yêu cầu bà S trả lại phần đất mà bà S đã cất nhà lấn chiếm ngang khoảng 03 mét, dài khoảng 35 mét. Tuy nhiên, khi đo dạc thực tế bà S đã chỉ hết toàn bộ phần đất của bà N. Nên nay bà N yêu cầu bà S trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế như Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 414,6m², tại thửa 1842, tờ bản đồ số 8 tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Tại phiên tòa bà N yêu cầu bà S trả lại phần đất tại vị trí (I) theo như Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 300,4m², tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8. Đối với phần đất tranh chấp tại vị trí (II) theo như Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 114,2m², tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8, tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang mà bà S đã cất nhà kiên cố thì bà N cũng thống nhất cho bà S ổn định sử dụng và công nhận phần đất cho bà S nhưng bà S phải có nghĩa vụ trả cho bà N giá trị là 77.998.600 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 235/2024/252-BĐS ngày 29/7/2024 của Công ty Cổ phần T.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:
Về nguồn gốc đất là do ông bà cha mẹ để lại. Lúc bà nội của bà S là bà Lê Thị Q còn sống và mẹ của bà S là Nguyễn Thị M1 có hứa tặng cho bà phần đất chiều ngang khoảng 20 mét, dài khoảng 35 mét, lúc cho không có giấy tờ chứng minh và cũng không có đo đạc thực tế. Bà đã nhận phần đất từ năm 1977 và sử dụng cho đến nay. Khi nhận tặng cho phần đất này là lung lá. Sau khi bà nhận đất thì một phần bà S cất nhà để ở, phần còn lại bà cải tạo và trồng cây lâu năm. Bà sử dụng nhưng chưa đăng ký quyền sử dụng đất. Sau này khi mẹ bà mất em trai bà là Nguyễn Văn S1 Em (X) tự đứng ra chia và tự làm giấy kêu bà ký tên. Lúc đó bà cũng có ký tên nhưng không có xem là mình được chia bao nhiêu. Việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều do Sum E đứng ra làm. Bà không nhớ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm nào. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà S mới biết mình được cấp phần đất có chiều ngang 10 mét, phần 10 mét còn lại cấp cho bà N nhưng bà không có ý kiến gì. Bởi vì phần đất này bà đã được mẹ bà tặng cho rồi. Nay bà cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà và bà N. Bà S ở trên đất đến năm 2018, thì bà sửa chữa mở rộng căn nhà trên đất. Khi bà S sửa chữa thì không ai tranh chấp, chỉ mới phát sinh tranh chấp khoảng 02 năm nay.
Nay bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu bà trả phần đất tranh chấp thì bà không thống nhất. Bà có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận cho bà và ông M phần đất tranh chấp tại vị tri (I) và (II) theo như Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 414,6m², tại thửa 1842, tờ bản đồ số 8 tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang cho bà S.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn M trình bày:
Phần đất tranh chấp ông và vợ là bà Nguyễn Thị S được bà nội vợ là bà Lê Thị Q và mẹ vợ là Nguyễn Thị M1 cho và đã canh tác từ năm 1977 đến nay, lúc canh tác năm 1977 các anh chị em trong nhà đều thống nhất. Đến năm 2022, thì phát sinh tranh chấp. Ông M thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị S.
Nay ông M yêu cầu Tòa án công nhận cho vợ chồng ông phần đất tranh chấp theo như Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 414,6m², tại thửa 1842, tờ bản đồ số 8 tại ấp E, xã V huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K1 trình bày bài luận cứ bảo vệ như sau:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do bà Nguyễn Thị N nhận thừa kế của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị M1. Tại thời điểm thỏa thuận phân chia thừa kế bà Nguyễn Thị S cũng đồng ý ký tên. Bà N và bà S được cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời điểm, bà S cũng không có ý kiến gì về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên. Dó đó, có cơ sở để cộng nhận phần đất tranh chấp cho bà N.
Trong quá trình sử dụng đất bà S có cất nhà lấn sang phần đất của bà N. Nay bà N cũng thống nhất tách phần đất tranh chấp tại vị trí (II) theo Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 114,2m², tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8, tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nhưng buộc bà S phải trả lại giá trị phần đất 77.998.600 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 235/2024/252-BĐS ngày 29/7/2024 của Công ty Cổ phần T.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị S là không có cơ sở và không có chứng cứ để chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Áp dụng: Điều 26, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 235, Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N. Về án phí: Do các đương sự là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí cho các đương sự. Về chi phí thẩm định, đo đạc và chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện bà Nguyễn Thị S yêu cầu bà S trả lại phần đất đang tranh chấp. Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Phần đất tranh chấp tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[1.2]. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Bà N thống nhất tách phần đất tranh chấp tại vị trí (II) theo Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 114,2m², tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8, tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nhưng buộc bà S phải trả lại giá trị phần đất 77.998.600 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 235/2024/252-BĐS ngày 29/7/2024 của Công ty Cổ phần T. Xét yêu cầu thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của bà N là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và hạn chế thiệt hại về tài sản nên căn cứ theo quy định tại Điều 5, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về nguồn gốc phần đất tranh chấp:
Nguyên đơn Nguyễn Thị N và bị đơn Nguyễn Thị S đều thống nhất nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị M1 (mẹ của bà N và bà S). Bà M1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30/11/1993, phần đất có tổng diện tích 18.150 mét, gồm các thửa 543, 683, 799, 798, tờ bản đồ số 8. Đất tọa lạc tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Đến ngày 07/02/2012, bà Nguyễn Thị M1 chết không để lại di chúc.
[2.2]. Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Sau khi bà Nguyễn Thị M1 chết, các anh em của bà N gồm bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Sum A, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn S1 có thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Ủy ban nhân dân xã V chứng thực ngày 19/10/2016. Theo văn bản thỏa thuận bà N được nhận thừa kế phần đất tại một phần thửa 798, có diện tích 396,5m². Đến ngày 07/6/2021, bà Nguyễn Thị N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1842, phần đất có diện tích 396,5m², tờ bản đồ số 08.
Đối với hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS04510 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H ký ngày 07/6/2021 cấp cho bà Nguyễn Thị N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H trả lời tại Công văn số 2356/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 23/8/2024 là đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định.
[2.3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và lời trình bày luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K: Bà N yêu cầu bà S trả lại phần đất tại vị trí (I) theo như mãnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 300,4m², tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8. Đối với phần đất tranh chấp tại vị trí (II) theo như mãnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 114,2m², tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8, tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang mà bà S đã cất nhà kiên cố thì bà N cũng thống nhất cho bà S ổn định sử dụng và công nhận phần đất cho bà S nhưng bà S phải có nghĩa vụ trả cho bà N giá trị là 77.998.600 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 235/2024/252-BĐS ngày 29/7/2024 của Công ty Cổ phần T.
Xét thấy, phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị M1. Năm 2012, bà M1 chết không để lại di chúc nên năm 2016 các anh em của bà N thỏa thuận phân chia thừa kế. Bà Nguyễn Thị S thừa nhận có ký tên vào văn bản phân chia thừa kế và các giấy tờ thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử sử dụng đất cho bà N và bà S. Đến năm 2021, bà Nguyễn Thị N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N được ủy ban nhân dân huyện L trả lời là đảm bảo theo quy định. Bà Nguyễn Thị S cũng không có ý kiến gì về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận của bà Nguyễn Thị N. Do đó, lời trình bày của bà Nguyễn Thị N là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N là có cơ sở để Hội động xét xử chấp nhận.
[2.4]. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị S. Bà S cũng thống nhất nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị M1. Tuy nhiên, bà M1 đã tặng cho bà S từ năm 1977 và bà đã sử dụng phần đất từ đó đến nay. Bà S cho rằng việc tặng cho chỉ thỏa thuận miệng nên bà S không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho việc được nhận tặng cho. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Tại biên bản hòa giải ngày 07/4/2023 của Tổ hòa giải ấp E, xã V và Biên bản hòa giải ngày 19/5/2023 của Hội đồng hòa giải xã V bà S trình bày thời điểm chia thừa kế bà N không nhận phần thừa của bà N, bà N tặng cho phần của bà N lại cho bà S. Ngoài ra, bà S cho rằng bà được bà Nguyễn Thị M1 tặng cho phần đất từ năm 1977, nhưng tại thời điểm kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng lần đầu bà không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất mà bà M1 mới là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, lời trình bày của bà S là có mâu thuẫn và không được bà N thừa nhận nên không có cơ sở để xem xét.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà S thừa nhận có ký tên vào văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế và các thủ tục thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không biết là phần đất của bà được chia bao nhiêu. Qua xác minh tại địa phượng, khi thực hiện thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất cho các anh em của bà N và bà S thì có tiến hành đo đạc, các bên có ký tên vào bản mô tả ranh giới, mốc giới. Do đó, việc bà S trình bày là không biết phần đất bà được nhận thừa kế bao nhiêu là chưa phù hợp.
Hơn nữa, bà N và bà S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời điểm năm 2021. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể hiện rõ diện tích và kích thước nhưng từ thời điểm được cấp giấy đến lúc tranh chấp bà S không có ý kiến gì về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà S và bà N.
[2.5]. Đối với phần công trình trên đất: Tại thời điểm bị đơn Nguyễn Thị S cất nhà vào năm 2018. Do bà Nguyễn Thị N không có ở địa phương nên không hay biết việc bà S cất nhà. Nay bà N cũng thống nhất ổn định phần đất và nhà mà bà S đã nhưng buộc bà S trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà N. Xét thấy yêu cầu của bà N là phù hợp với quy định của pháp luật và hạn chế thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử thống nhất công nhận phần đất tranh chấp tại vị trí (II) theo như mãnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của công ty cổ phần Đ có tổng diện tích 114,2m², tại một phần thửa 1842 và phần công trình trên đất cho bà Nguyễn Thị S. Buộc bà Nguyễn Thị S trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà N là 77.998.600 đồng.
[2.6]. Về phần cây trồng trên đất: Nguyên đơn Nguyễn Thị N và bị đơn Nguyễn Thị S đều thống nhất phần cây trên phần đất tranh chấp do bà S trồng. Bà N đồng ý ổn định sử dụng phần cây trồng trên đất. Bà N thống nhất trả giá trị cây trồng trên đất cho bà S. Hội đồng xét xử xét thấy để hạn chế thiệt hại về cây trồng nên ổn định cây trồng trên đất cho bà Nguyễn Thị N. Buộc bà N trả cho bà Nguyễn Thị S giá trị của các cây trồng trên đất là 24.660.000 đồng.
[2.7]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn là có cơ cở để chấp nhận.
[2.8]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn Nguyễn Thị N và bị đơn Nguyễn Thị S là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử thống nhất miễn án phí cho các đương sự.
[2.9]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ theo quy định tại Điều 157, Điều 158, Điều 165 và Điều 169 của Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị S phải nộp 6.940.000 đồng để hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
[2.10]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 40, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 169, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 100, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Điều 235 và Điều 236 Luật đất đai năm 2024;
Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn bà Nguyễn Thị S.
- Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị S trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phần đất tại vị trí (I) có tổng diện tích 300,4m² (trong đó có 67,94m² đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông, có 190,25m² đất thuộc hành lang bảo vệ Sông Cái Lớn) tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị S trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N giá trị phần đất tranh chấp tại vị trí (II) là 77.998.600 đồng (bảy mươi bảy triệu chín trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm đồng). (Phần đất có sơ đồ, bản vẽ kèm theo thể hiện trong Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty Cổ phần Đ).
- Công nhận cho bị đơn bà Nguyễn Thị S phần đất tranh chấp tại vị trí (II) có tổng diện tích 114,2m² (trong đó có 25,85m² đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông, có 72,01m² đất thuộc hành lang bảo vệ Sông Cái Lớn) tại một phần thửa 1842, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. (Phần đất có sơ đồ, bản vẽ kèm theo thể hiện trong Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty Cổ phần Đ).
- Công nhận cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N được sở hữu toàn bộ phần cây trồng trên phần đất tại vị trí (I) theo Mảnh trích đo địa chính số 59/CHK ngày 01/7/2024 của Công ty Cổ phần Đ. Bà N có nghĩa vụ trả giá trị toàn bộ cây trồng tại vị trí (I) là 24.660.000 đồng (hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bị đơn bà Nguyễn Thị S.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bị đơn bà Nguyễn Thị S thuộc trường hợp được miễn tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị S phải nộp 6.940.000 đồng (sáu triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng) để hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thới Phần |
Bản án số 61/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 61/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu bà S trả lại phần đất đã bao chiếm
