Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/DS-PT

Ngày: 23-01-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các thẩm phán:Ông Mai Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thu Huyền

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 467/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 30/8//2024 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 523/2024/QĐ-PT ngày 18/11/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1);

Trụ sở: Số B - B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D-Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2) do ông Lê Ngọc T – Tổng Giám đốc đại diện. Trụ sở: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H - Nhân viên Công ty S2. Địa chỉ: Tầng G, số F N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt.

Bị đơn: Bà Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1986; Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm C, G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là Ngân hàng S1) trình bày:

Ngày 02/3/2020, bà Trần Thị Ánh T1 có ký với Ngân hàng S1 đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T1, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân; Lãi suất áp dụng 2,6%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 162.430.000 đồng và bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 149.030.598 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Số tiền dư nợ còn thiếu, bà T1 chưa thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/6/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà T1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 30/8/2024, bà T1 còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Dư nợ gốc: 17.354.400 đồng; Lãi quá hạn: 26.364.165 đồng; Tổng cộng: 43.718.565 đồng (Bốn mươi ba triệu, bảy trăm mười tám nghìn, năm trăm sáu mươi lăm đồng).

Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc bà Trần Thị Ánh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024 nêu trên và đề nghị bà Trần Thị Ánh T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn là bà Trần Thị Ánh T1: vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Nhưng bị đơn đều không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án không lấy được lời khai cũng không hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn.

2

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 56/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân quận H đã xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Thị Ánh T1 về việc yêu cầu thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng dư nợ còn thiếu theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 02/3/2020.

Buộc bà Trần Thị Ánh T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 30/8/2024 là 39.249.628 đồng (Ba mươi chín triệu, hai trăm bốn mươi chín nghìn, sáu trăm hai mươi tám đồng), bao gồm: nợ gốc 14.657.860 đồng, lãi trong hạn 2.178.731 đồng, phí 517.809 đồng, lãi quá hạn 21.895.228 đồng.

Kể từ ngày 31/8/2024, bà Trần Thị Ánh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi quá hạn của Ngân hàng TMCP S.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận số tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn mà Ngân hàng yêu cầu là không có căn cứ và không đúng quy định pháp luật. Ngân hàng kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm ngày 30/8/2024 và chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Ngân hàng TMCP S (S1) có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Thị Ánh T1 và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. S1 đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của S1.

Bị đơn vắng mặt nên các đương sự không thoả thuận được cách giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về tố tụng:

Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung:

Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn đã nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận về mặt hình thức.

Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử theo quy định.

[2]. Về nội dung:

Xét kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

2.1. Về Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng:

Giữa Ngân hàng và bà Trần Thị Ánh T1 có ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2020 kèm Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1. Hợp đồng được các bên xác lập tự nguyện cam kết, thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự. Về hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 117, 119 Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy, Hợp đồng được xác định là hợp pháp và có hiệu lực kể từ thời điểm hợp đồng được giao kết, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự.

2.2. Về yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Xét quá trình thực hiện hợp đồng của các bên: S1 đã thực hiện đúng hợp đồng, đã cấp thẻ tín dụng và hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng cho bà Trần Thị Ánh T1, với mục đích tiêu dùng cá nhân; Lãi suất 2,6%/tháng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng đến nay, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 162.430.000 đồng. Tuy nhiên, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả gốc và lãi phát sinh theo quy định tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng 149.030.598 đồng. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của bà Trần Thị Ánh T1 thể hiện số tiền bà T1 đã giao dịch và thanh toán thì bà T1 giao dịch lần cuối cùng vào kỳ ngày 22/01/2021. Theo thỏa thuận trong bản điều khoản về thứ tự thanh toán thì số tiền thanh toán của kỳ này sẽ thanh toán cho khoản phí và lãi của kỳ trước, giao dịch của kỳ trước. Do đó, dư nợ gốc của bà T1 còn nợ ngân hàng tính đến ngày 22/3/2021 là: 14.957.860 – 300.000 (bà T1 thanh toán ở kỳ trước) = 14.657.860 đồng là phù hợp với pháp luật.

2.3. Về lãi trong hạn, lãi quá hạn và các loại phí trong thời gian thẻ tín dụng còn hiệu lực:

Lãi suất, phí trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận phù hợp

4

với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

Đối với phí:

Phí trễ hạn, phí vượt hạn mức và phí từ ngày 22/02/2021 đến ngày 22/6/2021 là 1.017.809 đồng. Đến kỳ ngày 22/11/2021, bà T1 thanh toán thêm được 500.000 đồng. Số tiền thanh toán này được trừ vào số tiền phí theo thứ tự thanh toán thỏa thuận trong Bản điều khoản. Như vậy, phí còn lại được xác định là 517.809 đồng.

Đối với lãi quá hạn:

Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/6/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là đúng với quy định tại Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, đúng theo thoả thuận đã ký. Tuy nhiên, ngân hàng yêu cầu bị đơn thanh toán lãi quá hạn trên số tiền 17.354.400 đồng được tính trên toàn bộ dư nợ bao gồm cả lãi và phí: yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận tại mục 1.9 Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng về dư nợ nhưng không phù hợp với quy định tại điểm a khoản 11 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về dư nợ gốc bị quá hạn, không phù hợp với nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn, theo Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dẫn đến lãi chồng lãi. Hội đồng xét xử xác định chỉ được áp dụng lãi quá hạn trên số dư nợ gốc được xác định là 14.657.860 đồng; do đó, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng đối với nợ lãi quá hạn và tính lại như sau:

Ngày 23/6/2021, Ngân hàng chấm dứt sử dụng thẻ và chuyển sang lãi quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/8/2024), số ngày quá hạn là 1165 ngày; lãi suất quá hạn là: 2,6% x 150% = 3.9%/tháng = 46.8%/năm.

14.657.860 x 46.8%/năm x 1165/365 = 21.895.228 đồng.

Đối với bị đơn bà Trần Thị Ánh T1, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên được xác định bị đơn đã từ bỏ nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Trần Thị Ánh T1 phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho nguyên đơn theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 02/3/2020. Tổng cộng, bà Trần Thị Ánh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ còn phải trả tính đến ngày 30/8/2024 là: 39.249.628 đồng (nợ gốc 14.657.860 đồng, lãi trong hạn 2.178.731 đồng, phí 517.809 đồng, lãi quá hạn 21.895.228 đồng).

Ngoài ra, bà Trần Thị Ánh T1 còn có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh tiếp tục được tính kể từ ngày 31/8/2024 trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi

5

suất quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng. Không chấp nhận một phần yêu cầu tính gốc và tính lãi quá hạn của nguyên đơn.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3]. Về án phí:

- Ngân hàng TMCP S phải chịu án phí sơ thẩm đối với một phần yêu cầu lãi quá hạn không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Bà Trần Thị Ánh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Do không được chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Ngân hàng TMCP S (S1) phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 38; Điều 147; Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 3, Điều 117, Điều 119, Khoản 1 Điều 280, Điều 317 đến Điều 323, Điều 401, Điều 463, 466, 468, 470 và các Điều từ 500 đến 503 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Khoản 2 Điều 91; Khoản 2 Điều 95; Khoản 3, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số Điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
  • Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 1.3 Điều 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử:

6

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP S (S1).
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

    2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Thị Ánh T1 về việc yêu cầu thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng dư nợ còn thiếu theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 02/3/2020.

    Buộc bà Trần Thị Ánh T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 30/8/2024 là 39.249.628 đồng (Ba mươi chín triệu, hai trăm bốn mươi chín nghìn, sáu trăm hai mươi tám đồng), bao gồm: nợ gốc 14.657.860 đồng, lãi trong hạn 2.178.731 đồng, phí 517.809 đồng, lãi quá hạn 21.895.228 đồng.

    Kể từ ngày 31/8/2024, bà Trần Thị Ánh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

    2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi quá hạn của Ngân hàng TMCP S.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:
    • + Ngân hàng TMCP S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí Ngân hàng TMCP S đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu số 0011296 ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H, thành phố Hà Nội. Hoàn trả Ngân hàng TMCP S số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.
    • + Bà Trần Thị Ánh T1 phải chịu 1.962.000 đồng (Một triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm:
    • Ngân hàng TMCP S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0033649 ngày 16/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H, thành phố Hà Nội.

    Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

7

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận H;
  • - Chi cục THADS quận H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/DS-PT ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 61/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là ngân hàng Sacombank và bị đơn là bà Trần Thị Ánh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger