Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/DS-PT

Ngày: 04/6/2025

“V/v Tranh chấp lối đi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Thẩm phán: Ông Hồ Ngọc Tiếp, bà Đoàn Thị Kiều Hương

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 29/5/2025 và ngày 04/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 145/2024/TLPT-DS ngày 06/12/2024 về việc “Tranh chấp lối đi”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 08/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXPT-DS ngày 18/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1986.

Trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1946, trú tại khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn G - Sinh năm: 1983 - Luật sư, Công tác tại: Công ty L1 . Đoàn luật sư tỉnh N. Ông: Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1994. Luật sư, Công tác tại: Công ty L1. Đoàn luật sư tỉnh N. Ông G có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án; ông Tuấn A vắng mặt.

Bị đơn:

- Ông Nguyễn Tài S, sinh năm 1970. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

- Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1972. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

Cùng trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của ông S: bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

1

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Tài S: ông Nguyễn Đình Kim C và ông Đoàn Văn H1, luật sư chi nhánh miền T – công ty L2 – Đoàn luật sư thành phố H. Ông C vắng mặt, ông H1 có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1946. Địa chỉ: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

2. Ông Nguyễn Trọng H2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.

3. Ban Q: Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Huy Đ – Phó Trưởng ban phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ. Địa chỉ: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Gia đình anh Nguyễn Quốc T và nhiều hộ gia đình khác từ nhiều năm nay đang quản lý, sử dụng đất rừng phòng hộ hợp pháp do Ban Q giao khoán. Gia đình anh được Ban Q, khoảnh 15 Tiểu khu H thuộc địa giới hành chính xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Từ bao lâu nay đã và đang tồn tại con đường lịch sử mà cán bộ quản lý rừng phòng hộ thực hiện việc tuần tra, bảo vệ rừng và cũng là con đường mà các hộ gia đình sử dụng để đi lại chăm sóc, bảo vệ phát triển rừng theo đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Con đường này giáp với thửa đất của vợ chồng ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1.

Vợ chồng ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 cho rằng con đường này thuộc đất của ông S, bà T1 nên luôn tìm cách gây khó dễ cho gia đình anh T và các gia đình khác sử dụng con đường này. Để cho mọi chuyển được ổn thỏa cũng như yên tâm trồng, chăm sóc và khai thác cây trong khu vực rừng phòng hộ có hiệu quả nên ngày 07/02/2013 gia đình anh T đã trả cho vợ chồng ông S, bà T1 và vợ chồng em vợ ông S là ông H2, bả T1 quê ở huyện A số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để mua đường đi (có Giấy thỏa thuận gửi kèm theo).

Dù năm 2013 các bên đã có thỏa thuận về việc sử dụng diện tích lối đi chung sử dụng ổn định lâu dài nhưng vợ chồng ông S, bà T1 vẫn tham lam trở mặt làm trái.

Nhiều năm nay, gia đình ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị Thủy phủ N, tráo trở việc nhận tiền để cùng sử dụng diện tích lối đi chung mà các bên đã thỏa thuận năm 2013 để lại tiếp tục yêu cầu gia đình anh T và các hộ gia đình khác phải trả tiền mới cho sử dụng đường đi. Gia đình ông S, bà T1 đã có hành vi xây dựng cổng sắt khóa cửa, gây khó khăn, ngăn cản các hộ gia đình thực hiện việc đi lại trên con đường này. Gia đình anh T đã nhiều lần, qua nhiều năm làm nhiều

2

loại đơn thư kiến nghị, phản ánh sự việc lên các cơ quan chức năng nhưng vẫn chưa được giải quyết phù hợp, đúng pháp luật.

Quá trình các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên đây thì Ban Q khẳng định việc Ban Q giao khoán đất cho gia đình anh T là có đường để đi theo hiện trạng hiện nay và việc ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 ngăn cản là hành vi trái pháp luật cần được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết dứt điểm. Quan điểm này của Ban Q được thể hiện bằng Văn bản số 32/BQL.KH-KT ngày 30/5/2019 và Văn bản số 09/BQL ngày 11/03/2020 gửi UBND huyện T và UBND thị trấn T. Anh T cho rằng gia đình ông S, bà T1 đang có hành vi xâm phạm nghiêm trọng lối đi chung giữa các bất động sản liền kề đã được mẹ anh T là bà Trần Thị H và vợ chồng ông S, bà T1 thỏa thuận thống nhất từ năm 2013.

UBND thị trấn T đã nhiều lần tổ chức hòa giải vụ việc theo quy định nhưng không thành.

Thời gian vừa qua anh T phát hiện hộ gia đình vợ chồng ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 có hành vi trồng cây lấn chiếm phần diện tích đất của con đường trên đây mà gia đình anh T đã mua của vợ chồng ông S, bà T1 và vợ chồng em vợ ông S là ông H2, bả T1 quê ở huyện A.

Để gia đình anh T và nhiều gia đình khác có lối đi chung được pháp luật bảo vệ, không bị ngăn cản, chiếm dụng trái pháp luật. Anh T đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu như sau:

- Buộc ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 phải trả lại lối đi chung có diện tích ước tính khoảng 120m2 (rộng 4m x dài 30m) đoạn giáp với thửa đất số 64, tờ bản đồ số 11 (nay là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26) của vợ chồng ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 tại khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An mà gia đình anh T đã mua theo Giấy thỏa thuận ngày 07/02/2013.

- Buộc ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 phải tháo dỡ cổng sắt được xây dựng trái phép và giải tỏa cây cối trồng trái phép trên phần diện tích đất lối đi chung, trả lại nguyên trạng lối đi chung theo quy định.

Tại đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 22/8/2024 và bản tự khai ngày 22/8/2024, nguyên đơn có bổ sung thêm nội dung khởi kiện: buộc ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 phải trả lại lối đi qua có diện tích là 492.3m2 thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26 (nay là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26) của vợ chồng ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 tại khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An mà gia đình anh T đã bỏ tiền ra mua theo Giấy thỏa thuận ngày 07/02/2013.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại phần diện tích đất ngõ đi qua theo Giấy thỏa thuận mở đường ngày 07/02/2013. Phần diện tích đất ngõ đi qua theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ là 492.3m2 thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26 và buộc bị đơn phải tháo dỡ tài sản trên diện tích đất 492.3m2 ngõ đi qua. Chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các quan

3

điểm dưới đây để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên vì chúng tôi rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

- Phần diện tích đất 492.3m2 theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tại Biên bản định giá tài sản có giá là 120.000 đồng/m2 x 492.3 m2 = 59.076.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng kết quả này để giải quyết vụ án vì nguyên đơn đã giao đủ số tiền 10.000.000đ tại Giấy thỏa thuận mở đường ngày 07/02/2013 (bị đơn nhận 6.000.000đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng H2 nhận 4.000.000₫).

- Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng H2 thừa nhận có ký vào Giấy thỏa thuận mở đường, có nhận số tiền 4.000.000đ ngày 07/02/2013 từ bà Trần Thị H nhưng chỉ thừa nhận là tiền cây cối, hoa màu. Bà H cho rằng ý kiến này là không đúng sự thật. Theo nội dung Giấy thỏa thuận mở đường thì không có việc các bên thỏa thuận liên qua đến cây cối, hoa màu. Kính đề nghị HĐXX không xem xét.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Tài S cho rằng ông không đồng ý với nôi dung của Giấy thỏa thuận mở đường, không trực tiếp nhận tiền từ bà Trần Thị H, bị đơn bà Nguyễn Thị T2 thừa nhận có ký vào Giấy thỏa thuận mở đường nhưng không đọc nội dung. Bà H khai rằng từ thời điểm các bên thỏa thuận đến khi ký biên bản và giao nhận tiền thì ông S, bà T2 đều có mặt. Vì vậy, chúng tôi cho rằng ý kiến của bị đơn ông S, bà T2 là không đúng sự thật, không có cơ sở để xem xét.

- Giấy thỏa thuận mở đường ngày 07/02/2013 được các bên xác lập không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các đương sự đã thỏa thuận việc mua bán đất để làm đường đi chung. Theo nội dung Giấy thỏa thuận mở đường thì phần diện tích đất làm đường đi chung là phần diện tích đất trên cơ sở hiện trạng “đường cũ đã khai phá, đường đã mở” qua đất gia đình nhà bị đơn bắt đầu từ vị trí giáp đất nhà ông H3 đến vị trí giáp đất nguyên đơn được Ban Q. Vị trí, phần diện tích đất theo thỏa thuận tại Giấy mở đường này phù hợp với hiện trạng trên thực địa theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ. Bị đơn đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận từ nguyên đơn.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ban Q cũng xác nhận rằng phần diện tích đất theo Giấy thỏa thuận mở đường là phần diện tích đất duy nhất mà nguyên đơn, các hộ gia đình khác cũng như Ban Q sử dụng từ trước khi các bên xác lập Giấy thỏa thuận mở đường ngày 07/02/2013. Ban Q cũng đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết chấp nhận lối đi qua theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Điều 273 Bộ luật dân sự 2005 và nay là Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định về quyền có lối đi qua của bất động sản liền kề. Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích đất mà các bên đã thỏa thuận tại giấy thỏa thuận mở đường là để thực hiện quyền có lối đi của bất động sản liền kề được pháp luật bảo vệ nên cần được Hội đồng xét chấp nhận.

Bị đơn ông Nguyễn Tài S trình bày:

4

Vào ngày 07/02/2013 thì giữa vợ ông là bà Hoàng Thị T1 và bà Trần Thị H4, trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An có viết giấy thoả thuận mở đường mà bà H đã cung cấp cho Toà án thì khi đó ông không có mặt ở nhà. Việc chị T1 có ký nhận 10.000.000 đồng trong giấy thì ông cũng không có mặt. Nhưng sau đó thì ông về nhà gặp bà H, vợ ông bà Hoàng Thị T1 và anh Nguyễn Trọng H2 là em rể đang ngồi ở nhà thì sau đó ông đọc biên bản thoả thuận thấy không hợp lý nên ông yêu cầu viết lại văn bản khác và trong văn bản viết lại đó có chữ ký của ông. Văn bản viết lại đó có nội dung là thu hoạch keo trên đường đó theo thời vụ. Giấy đó được lập thành 01 bản và chúng ông cầm tiền còn bà H giữ giấy. Khi viết giấy thì không có người chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương. Giấy viết sau là do Nguyễn Đức H5, sinh năm 1977. Trú tại: K, thị trấn T là người viết. Trong tờ giấy này thì chỉ có ông S và bà H là người ký.

Số tiền 10.000.000 đồng này thì chị T1 nhận còn ông không chứng kiến và chị T1 có nói lại với ông. Số tiền này là số tiền tôi mở đường cải tạo, để phục vụ cho gia đình. Số tiền này là số tiền đền bù tài sản để mọi người đi qua.

Từ trước năm 2013 cho đến nay thì bà H đã thu hoạch keo và đi qua con đường đó 3 đến 4 lần. Có mấy lần ông không lấy tiền và có 01 lần tôi lấy 4.000.000 đồng từ Ủy ban nhân dân thị trấn T vào năm 2022.

Nay bà H có đơn yêu cầu ông mở lối đi cho bà H đi qua thì ông không cấm nhưng với điều kiện quá trình thu hoạch keo gây hư hại con đường thì bà H phải có trách nhiệm chi phí sửa chữa con đường và đến mua thu hoạch sản phẩm mỗi lần đi qua thì hai bên thoả thuận bà hạ đưa thêm cho ông một số tiền.

Bị đơn bà Hoàng Thị T1 trình bày:

Ngày 07/02/2013 tôi và bà H có viết giấy thoả thuận mở đường và tôi và anh H2 đã nhận 10.000.000 đồng, tôi nhận 6.000.000 đồng và anh H2 nhận 4.000.000 đồng. Khi viết giấy này thì không có ai chứng kiến và chỉ có bà H đến Ủy ban nhân dân thị trấn T để xác nhận. Khi thực hiện giao dịch trên thì chồng tôi là ông S không ở nhà. Người viết giấy này là chú H5 – em trai ông S và khi ký giấy này tôi cũng không đọc nội dung.

Bà H có yêu cầu chúng tôi tiếp tục mở đường này làm đường đi chung thì tôi không đồng ý. Nếu bà H đi qua thì phải bỏ chi phí sửa chữa đường cho gia đình bà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Trọng H2 trình bày:

Ngày 07/02/2013 anh có cùng bà H, chị T1 viết giấy thoả thuận mở đường theo giấy thoả thuận mở đường ngày 07/02/2013 mà bà H cung cấp. Khi đó tôi có thầu đất của anh Nguyễn Danh S1 ở đó để canh tác nên cho bà H phá cây cối và hoa màu trên đất để mở đường. Khi viết giấy thoả thuận thì anh H2 có ký vào giấy thoả thuận mở đường và nhận số tiền là 4.000.000, còn bà T1 nhận số tiền là 6.000.000 đồng. Tại thời điểm đó anh H2 chỉ yêu cầu đền bù hoa màu còn hiện nay anh không còn canh tác ở đây nữa nên anh không có yêu cầu gì.

Đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Q trình bày:

5

Theo ông Đinh Văn H6 thì con đường đó có từ trước mà chạy theo khe phía trước nhà ông S hiện tại. Trong quá trình sinh sống, sử dụng, canh tác, ông S đã ngăn con đường mòn trước đó; Sau đó các hộ cùng với ông S có thoả thuận mở đường hiện tại nối với khu vực vào rừng phòng hộ thông với con đường trước đó sang xã G, huyện Đ.

Phần đường hiện tại có khoảng 20m nằm trên bìa đất của gia đình ông S, ngoài ra phần đường còn lại nằm trên địa giới hành chính của xã K thuộc Ban Q quản lý.

Các hộ có rừng phòng hộ đi qua con đường này gồm có hộ ông S, hộ bà H, hộ bà Minh T3; các hộ có rừng sản xuất nằm trên địa giới hành chính là hộ ông Lê Xuân T4, Nguyễn Danh S1, Nguyễn Bá Xuân Đ1, bà Nguyễn Thị H7 (tại các thửa đất 294, 290, 261 tờ bản đồ số 1, theo bản đồ và sổ mục kê 163 thị trấn T) để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất. Cũng như các hộ dân nhận khoán đất rừng phòng hộ, tại khi vực rừng sản xuất con đường dân sinh trên là con đường độc đạo, duy nhất phục vụ việc sản xuất lâm nghiệp, tuần tra bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.

Phần đất lâm nghiệp mà hộ ông Nguyễn Tài S đang sử dụng là đất rừng phòng hộ thuộc địa giới hành chính xã K, huyện T hiện nay giáp ranh với phần đất lâm nghiệp quy hoạch phòng hộ của bà Trần Thị H.

Ban Q đã có 02 văn bản số 32/BQL.KH-KT ngày 30/5/2019 và 09/BQL ngày 11/3/2020 với UBND thị trấn T và UBND huyện T để kiến nghị giải quyết đường dân sinh phục vụ công tác bảo vệ và chăm sóc rừng và phòng cháy chữa cháy rừng nhưng đến nay chưa được giải quyết.

Những hộ thầu khoán ở khu đất này không có phần đất của anh S1.

Ban Q đề nghị Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ xem xét, giải quyết để có đường đi cho các hộ sản xuất trên địa bản và thực hiện công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Đề nghị Toà án yêu cầu hộ ông S chấp hành pháp luật về việc sử dụng rừng phòng hộ đó là xác nhận quyền sử dụng đất rừng phòng hộ. Cụ thể: Ông S đến Ban Q để cung cấp các giấy tờ liên quan đến thửa đất của ban Q để xác thực quyền thừa kế nhận khoán đất rừng từ ông Nguyễn Danh N1 – là bố của ông Nguyễn Tài S.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 08/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ đã quyết định:

Căn cứ: Điều 26, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015;

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Quốc T.

Buộc: Ông Nguyễn Tài S và bà Hoàng Thị T1 mở lối đi qua cho anh Nguyễn Quốc T để anh T đi vào lô 6, khoảnh 15 Tiểu khu 867 thuộc địa giới hành chính xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An để canh tác, sản xuất. Diện tích lối đi qua 492.3 m2 (320.6 m2 + 171.7 m2) nằm trong thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26, chủ sử dụng

6

ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 có địa chỉ tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An: Cụ thể:

Có kích thước cạnh và tiếp giáp như sau:

Cạnh phía bắc: Giáp đất xã K gồm các cạnh có kích thước: 1.00m + 10.11m + 4.02m + 3.20m.

Cạnh phía đông: Giáp đất xã K gồm các cạnh có kích thước: 12.37m + 9.83m + 18.23m + 4.61m + 13.46m + 4.10m + 23.27m + 23.03m + 9.18m + 15.78m.

Cạnh phía đông nam: Giáp rừng sản xuất thửa số 17, cạnh có kích thước: 1.98m.

Cạnh phía tây và tây nam giáp đất ông S và bà T1: gồm các cạnh có kích thước: 4.17m + 14.11m + 24.13m + 15.46m + 15.46m + 4.46m + 11.03m + 9.52m + 10.75m + 8.91m + 7.82m + 3.41m + 5.01m + 7.26m + 4.48m.

( Có sơ đồ kèm theo)

Trong quá trình sử dụng lối đi qua để sản xuất, khai thác, thu hoạch sản phẩm mà bị hư hỏng thì anh Nguyễn Quốc T có trách nhiệm và nghĩa vụ phải bỏ mọi chi phí sửa chữa đường.

Buộc: Ông S, bà T1 không được khóa cữa, gây cản trở khi anh T, bà H đi qua vào canh tác và thu hoạch sản phẩm tại lô 6, khoảnh 15 Tiểu khu H thuộc địa giới hành chính xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/10/2024, bị đơn ông Nguyễn Tài S, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng tuyên giấy thỏa thuận mở đường được lập ngày 07/02/2013 vô hiệu.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3, Điều 308 Bộ luật tố tụng năm 2015, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, những người vắng mặt đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tài S:

[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải tháo dỡ các tài sản trên đất gồm cổng sắt được xây dựng trái phép và giải tỏa cây cối trồng trái phép trên phần diện tích đất lối đi qua, trả lại nguyên trạng lối đi qua theo quy

7

định. Bản án sơ thẩm nhận định không chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ các tài sản trên đất gồm cổng sắt và giải tỏa cây cối trên phần diện tích đất lối đi qua của nguyên đơn, nhưng phần quyết định của bản án lại không quyết định gì về yêu cầu trên của nguyên đơn là thiếu sót.

[2.2] Tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện con đường tranh chấp là lối đi độc đạo, duy nhất phục vụ trực tiếp cho 06 hộ gia đình là các hộ của ông Đậu Văn T5, ông Lê Xuân T4, ông Nguyễn Danh S1, ông Nguyễn Bá Xuân Đ1, bà Nguyễn Thị H7 và bà Trần Thị H (hộ anh Nguyễn Quốc T) để đi vào phục vụ cho việc chăm sóc rừng, khai thác lâm sản. Ngoài ra, bị đơn còn trình bày thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26 tại khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An là tài sản chung của hộ gia đình gồm vợ chồng ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 cùng các con chung của vợ chồng là Nguyễn Thị Thùy T6, Nguyễn Danh H8 và Nguyễn Thị Hoàng T7. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ nhưng nội dung nêu trên để có cơ sở xác định và triệu tập đầy đủ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của vụ án tham gia tố tụng là thiếu sót.

[2.3] Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Q trình bày phần lối đi tranh chấp đã có từ trước năm 2003, được các hộ dân xã K và thị trấn T sử dụng thường xuyên, ổn định để đi lại và sản xuất, là con đường độc đạo, duy nhất phục vụ trực tiếp cho 06 hộ gia đình, con đường này đã có trên bản đồ trước đây, chạy theo khe phía trước nhà ông S, bà T1 hiện tại. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ nội dung này, chưa làm rõ quá trình hình thành, vị trí, quá trình khai thác, sử dụng con đường này của hộ ông S và các hộ gia đình nói trên, cũng chưa thu thập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 26, tại khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An của gia đình ông S, bà T1 để làm rõ con đường này có nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà T1, ông S hay không, nếu cấp vào thửa đất của gia đình ông S, bà T1 thì cần làm rõ con đường này được mở trước hay sau khi gia đình ông S, bà T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tại sao con đường này lại được cấp vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S, bà T1 để có cơ sở giải quyết vụ án.

[2.4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã xác minh làm rõ những nội dung trên. Theo đó, tại sơ đồ xác định đoạn đường đi qua thửa đất vườn nhà hộ gia đình ông Nguyễn Tài S thể hiện con đường tranh chấp nằm trong thửa đất số 64 (nay là thửa đất số 14) có chiều dài 70m. Tại Bản đồ lâm nghiệp ban hành tháng 3/2003 theo Nghị định 163/NĐ-CP thể hiện con đường mòn đi qua thửa đất 64 trùng với vị trí con đường tranh chấp trong khi Bản đồ lâm nghiệp được lập năm 2003, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 241682 mang tên hộ ông Nguyễn Tài S, bà Hoàng Thị T1 được cấp năm 2006, con đường tranh chấp là con đường độc đạo đi vào thửa đất của gia đình nguyên đơn và hộ dân khác, cũng là con đường được Ban quản lý rừng phòng hộ sử dụng để đi tuần tra, bảo vệ, thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Do đó, có cơ sở xác

8

định UBND huyện T đã cấp con đường mòn thể hiện trên Bản đồ lâm nghiệp năm 2003 vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông S. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa triệu tập UBND huyện T tham gia tố tụng để xác minh căn cứ, quy trình, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông S để làm rõ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức hay không để có cơ sở xem tính hợp pháp của văn bản này, nhưng đã xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Tài S và buộc gia đình ông S phải mở lối đi qua cho anh Nguyễn Quốc T là chưa đủ cơ sở và chưa giải quyết triệt để vụ án.

2.5. Khoản 3 Điều 53 Bộ luật tố tụng dân sự quy định Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp “Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”.

Tại Thông báo thụ lý vụ án số 77TB-TLVA ngày 18/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ thể hiện: Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ thụ lý vụ án “Tranh chấp lối đi” tại vị trí thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 11 (nay là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 26), khối B, thị trấn T, huyện T, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Hoàng Thị T1, ông Nguyễn Tài S. Ngày 20/12/2022, Thẩm phán Đặng Xuân H9 đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nhưng đến năm 2024, thẩm phán Đặng Xuân H9 lại tiếp tục thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện về cùng quan hệ tranh chấp về lối đi tại cùng vị trí tranh chấp, cùng bị đơn tại vụ án đã được đình chỉ năm 2022, thể hiện tại Thông báo thụ lý vụ án số 05/2024/TB-TLVA ngày 16/4/2024 và Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 08/10/2024 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[2.6] Tổng hợp các phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa thu thập chứng cứ đầy đủ, bỏ sót người tham gia tố tụng, chưa xem xét đầy đủ toàn diện vụ án và Thẩm phán Đặng Xuân H9 thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, những vi phạm này của Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không khắc phục được nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tài S và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

[3] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm sẽ quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khi giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tài S, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số

9

11/2024/DS-ST ngày 08/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Tài S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Tài S 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 000193 ngày 21/10/2014 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Tiền án phí, tạm ứng án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- TAND huyện Tân Kỳ;

- Chi cục THADS huyện Tân Kỳ;

- Các đương sự;

- Lưu HSVA, TDS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Ngọc Tiếp

Đoàn Thị Kiều Hương

Nguyễn Thị Thu Từ

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp lối đi

  • Số bản án: 61/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger