TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 61/2025/DS-PT Ngày 03-3-2025 V/v tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
- Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hùng
- Bà Ngô Thị Kim Châu
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễn Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2024/TLPT-DS, ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất”.
Do bản án sơ thẩm số 25/2024/DS-ST, ngày 01-7-2024 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 129/2024/QĐ-PT, ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 148/2024/QĐ-PT, ngày 15 tháng 11 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 08/TB-TA, ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hà Thị N, sinh năm 1971; cư trú tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Hồ Kim H, là Luật sư của Văn phòng luật sư Trương Hoàng P thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1964; cư trú tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1969; cư trú tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 26/02/2025” (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1969 (có mặt).
- Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1986 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thúy D, sinh năm 1991 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của anh L, chị D và anh Đ: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1969; cùng cư trú tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 30/5/2024” (có mặt).
- Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Do ông Nguyễn Trọng N1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân L2; trụ sở Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- - Người kháng cáo: Chị Hà Thị N là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện không ghi ngày, tháng, năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị N trình bày: Nguồn gốc đất, có diện tích 46,5m², tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh mà Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh ra quyết định thu hồi và bồi thường số tiền bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), là do cha mẹ chồng của chị quản lý, sử dụng trước năm 1991. Đến năm 1991, cha mẹ chồng của chị để lại đất này cho vợ chồng chị quản lý, sử dụng, nhưng chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi có thông báo thu hồi đất và bồi thường giá trị đất để phục vụ Dự án Luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông H (Giai đoạn 2), chị mới biết diện tích đất do ông P1 kê khai, đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất chung với diện tích đất 2.079,7m², thửa số 550, tờ bản đồ số 5. Vì vậy, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nhận toàn bộ tiền bồi thường giá trị đất bị thu hồi và tiền hỗ trợ khi bị thu hồi đất tổng cộng bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Theo bị đơn ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Nguồn gốc đất chị N tranh chấp, là của cha mẹ ông để lại cho ông từ năm 1990. Năm 1999, ông được cấp quyền sử dụng đất, diện tích 4.698m². Đến năm 2009, Nhà nước thu hồi một phần diện tích để phục vụ Dự án Luồng cho tàu có trọng tải lớn vào sông H, nên diện tích đất còn lại là 1.888m². Đến năm 2016, Nhà nước tiếp tục thu hồi thêm diện tích đất 161m², nên còn lại là 1.727m², thửa số 550, tờ bản đồ số 5. Khi thực hiện Dự án Luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông H (Giai đoạn 2), Nhà nước tiếp tục thu hồi diện tích đất 46,5m² và áp giá bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Vì vậy, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của chị N.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: Bà Huỳnh Thị T, anh Trần Ngọc L, chị Nguyễn Thúy D và anh Nguyễn Tấn Đ đều thống nhất theo lời trình bày của ông P1.
Theo người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã D trình bày tại Công văn số 1385/UBND-NC, ngày 16/5/2024 như sau: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa số 550, tờ bản đồ số 5, diện tích 4.689m², loại đất T-LN, tọa lạc tại ấp G, xã D, huyện D (nay là thị xã D) cho hộ ông P1, là đúng trình tự, thủ tục và đối tượng sử dụng đất. Ông P1 cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 550, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.727m², loại đất ONT-CLN, là đúng trình tự, thủ tục và đối tượng theo quy định. Đối với tiền bồi thường và hỗi trợ khi thu hồi diện tích đất 46,5m², bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) được Tiểu Hội đồng và Tổ chuyên viên giúp việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Dự án ký hợp đồng gửi có kỳ hạn tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh T4 - Phòng G để chờ Tòa án giải quyết.
Tại bản án sơ thẩm số 25/2024/DS-ST, ngày 01-7-2024 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị N.
- Chị Hà Thị N được quyền đến Ngân hàng Đ1 chi nhánh tỉnh T4 - Phòng G để nhận số tiền 34.735.500 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng) và tiền lãi của số tiền 34.735.500 đồng, theo Hợp đồng số 02/2022/17807805/HĐTG, ngày 18/7/2022.
- Ông Nguyễn Văn P1 được quyền đến Ngân hàng Đ1 chi nhánh tỉnh T4 - Phòng G để nhận số tiền 34.735.500 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng) và tiền lãi của số tiền 34.735.500 đồng, theo Hợp đồng số 02/2022/17807805/ HĐTG, ngày 18/7/2022.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị Hà Thị N về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa số 550, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.079,7m², tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do ông Nguyễn Văn P1 đứng tên quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, về án phí dân sự sơ thẩm và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/7/2024, nguyên đơn chị Hà Thị N làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử cho chị N được nhận toàn bộ số tiền bồi thường và hỗ trợ khi bị thu hồi đất bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P1 và bà T đều thừa nhận diện tích đất bị thu hồi là 46,5m² và bồi thường, hỗ trợ số tiền bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), là do vợ chồng chị N quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay. Ông P1 và bà T không sử dụng đất và cũng không ngăn cản hay tranh chấp việc sử dụng đất của vợ chồng chị N, nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P1 là không đúng đối tượng sử dụng đất. Tòa án sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được nhận 50% (Năm mươi phần trăm) trong tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ bằng 34.735.500 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng), là chưa đúng pháp luật và không đảm bảo quyền lợi của chị N. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, công nhận cho chị N được nhận toàn bộ số tiền bồi thường và hỗ trợ sau khi bị thu hồi đất.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, diện tích đất 46,5m² do Nhà nước thu hồi và bồi thường, hỗ trợ số tiền bằng bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), là do vợ chồng chị N quản lý, sử dụng từ trước cho đến nay. Ông P1, là người kê khai, đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất, nhưng không trực tiếp sử dụng đất. Khi cấp quyền sử dụng đất cho ông P1 không tài liệu, giấy tờ thể hiện việc chỉnh lý biến động đất đai từ ông N2 sang qua ông P1. Đến khi Nhà nước thu hồi diện tích đất và bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất, thì ông P1 mới biết ông P1 được cấp quyền sử dụng đất. Tòa án sơ thẩm áp dụng lẽ công bằng theo quy định tại Điều 6 của Bộ luật Dân sự, để xét xử công nhận cho chị N và ông P1, mỗi người được nhận 50% (Năm mươi phần trăm) trong tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ bằng 34.735.500 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng), là áp dụng không đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, công nhận cho chị N được nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Diện tích đất 46,5m² đã được Ủy ban nhân dân thị xã D ban hành quyết thu hồi để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Luồng cho T1 có trọng tải lớn vào Sông H (Giai đoạn 2), địa bàn thị xã D và thực hiện thủ tục bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Chị Hà Thị N khởi kiện tranh chấp với ông Nguyễn Văn P1 đối với số tiền 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) này. Do đó, Tòa án sơ thẩm không xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P1 thửa số 550. Tòa án sơ thẩm chỉ xem xét, giải quyết ai là người được nhận tiền bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất, là đúng pháp luật.
[2] Theo nội dung diễn giải trong Sơ đồ khu đất đính kèm Công văn số 240/VPĐKĐĐ-KTĐC, ngày 21/3/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh thị xã D, thể hiện: “Thửa số 550, tờ bản đồ số 05, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 178468 cho ông P1, hiện trạng sử dụng đất bà Hà Thị N. Hiện trạng diện tích đất 46,5m² đã xây dựng đường nhựa” (BL 41, 42). Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P1 và bà T (Vợ ông P1) đều khai “Anh T2, chồng của chị N là người lấp con K và chị N là người trực tiếp sử dụng đất tranh chấp” (BL 113, 114, 115). Như vậy, lời khai của ông P1 và bà T tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với nội dung diễn giải trong Sơ đồ khu đất đính kèm Công văn số 240/VPĐKĐĐ-KTĐC, ngày 21/3/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh thị xã D.
[3] Khi xét xử vụ án, Tòa án sơ thẩm chú trọng nội dung Công văn số 1385/UBND-NC, ngày 16/5/2024 của Ủy ban nhân dân thị xã D về việc xác định trình tự, thủ tục và đối tượng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P1, thửa số 550, tờ bản đồ số 05, là đúng quy định của pháp luật. Tòa án sơ thẩm không xem xét, đánh giá sự mâu thuẫn giữa nội dụng Công văn này với nội dung diễn giải trong Sơ đồ khu đất đính kèm Công văn số 240/VPĐKĐĐ-KTĐC, ngày 21/3/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh thị xã D và với lời khai của ông P1 và bà T tại phiên tòa sơ thẩm về việc xác định anh T2 là người trực tiếp lấp K và chị N là người trực tiếp sử dụng đất bị thu hồi. Không xem xét, đánh giá việc kê khai, đăng ký đất của ông P1 vào năm 1998 và Ủy ban nhân dân huyện D cũ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P1 ngày 02/12/1999, có đúng đối tượng sử dụng đất hay không, ông P1 là chủ sử dụng đất hợp pháp hay không.
[4] Ông P1 được Ủy ban nhân dân huyện D cũ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/12/1999, thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đất đai năm 1993. Theo Điều 21 của Luật Đất đai năm 1993 quy định “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện D cũ hay quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân thị xã D về việc thu hồi đất của chị N để giao cho ông P1.
[5] Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm áp dụng lẽ công bằng theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Bộ luật Dân sự, xét xử công nhận cho chị N và ông P1, mỗi người được nhận 50% (Năm mươi phần trăm) trong tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), là áp dụng không đúng thứ tự áp dụng pháp luật theo quy định tại Chương I về Những quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 6 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự, sau đó mới đến việc áp dụng Án lệ, nếu không có Án lệ để áp dụng thì mới áp dụng lẽ công bằng. Vì vậy, chị N kháng cáo yêu cầu được nhận toàn bộ số tiền bồi thường và hỗ trợ khi bị thu hồi đất bằng 69.471.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), là có căn cứ.
[6] Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên chị N và ông P1 được quyền đến Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 chi nhánh T4 - Phòng G để nhận tiền, cũng không đúng với nội dung Hợp đồng gửi tiền, quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia ký kết Hợp đồng gửi tiền. Trong trường hợp này, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì T3 Hội đồng hoặc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Ủy ban nhân dân được giao nhiệm vụ, để thực hiện thủ tục hoặc chỉ đạo thực hiện thủ tục rút tiền gửi và tiền lãi suất phát sinh từ tiền gửi, để chi trả cho người được nhận tiền theo bản án của Tòa án.
[7] Xét thấy quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, là có căn cứ.
[8] Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, là có căn cứ.
[9] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của chị N được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên chị N không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả tiền tạm án phí phúc thẩm cho chị N bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003946, ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Riêng ông P1 là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông P1 theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Hà Thị N.
Sửa bản án sơ thẩm số 25/2024/DS-ST, ngày 01-7-2024 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị N.
- Chị Hà Thị N được nhận tiền bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất bị thu hồi là 46,5m² để phục vụ Dự án đầu tư xây dựng công trình Luồng cho T1 có trọng tải lớn vào Sông H (Gai đoạn 2), với tổng số tiền bằng 69.471.000 đồng (Chín mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và tiền lãi suất phát sinh từ số tiền gửi.
- Tiểu Hội đồng và Tổ chuyên viên giúp việc bồi thường, hỗ trợ của Dự án đầu tư xây dựng công trình L1 cho T1 có trọng tải lớn vào Sông H (Gai đoạn 2) hoặc Ủy ban nhân dân thị xã D thực hiện thủ tục hoặc chỉ đạo thực hiện thủ tục chi trả tiền cho chị Hà Thị N theo quy định.
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị N về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa số 550, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.079,7m², tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do ông Nguyễn Văn P1 đứng tên.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc ông Nguyễn Văn P1 phải chịu toàn bộ số tiền bằng 1.074.653 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng), để hoàn trả cho chị Hà Thị N.
- Chị Hà Thị N đến Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh nhận lại tiền nộp tạm ứng còn thừa bằng 1.850.693 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn sáu trăm chín mươi ba đồng).
- Về án phí: Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hà Thị N bằng 1.736.000 đồng (Một triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn đồng), theo biên lai thu số 0002108, ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn P1.
- Hoàn trả tiền tạm án phí dân sự phúc thẩm cho chị Hà Thị N bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003946, ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 61/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất
- Số bản án: 61/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tiền bồi thường quyền sử dụng đất giữa Hà Thị Ng với Nguyễn Văn Ph
