TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 61/2024/HS-ST Ngày 23-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Bình;
- Ông Hoàng Văn Đoan.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Tiến T, sinh ngày 02-11-1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Tiến P, sinh năm 1967 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1975; có vợ là Vũ Thị H1, sinh năm 1993 và 04 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 35/QĐ-TA ngày 11-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T trong thời hạn 12 tháng; T chấp hành quyết định kể từ ngày 11-4-2024 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố Hải Phòng, đến ngày 24-4-2024 được tạm đình chỉ thi hành quyết định. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 24-4-2024; có mặt.
- Bị hại: Anh Lương Xuân H2 (đã chết); người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lương Văn V, sinh năm 1961 (bố đẻ anh H2); nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Bà Đinh Thị T1, có mặt; chị Vũ Thị H1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 19-01-2024, bị cáo Bùi Tiến T không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu KIA biển kiểm soát (BKS) 15C-390.54 tham gia giao thông trên đường trục xã C, huyện T hướng từ Uỷ ban nhân dân (UBND) xã C đi trường Trung học cơ sở K với tốc độ khoảng 50km/h (theo lời khai của T) để về huyện V. Khi đi đến gần khu vực giao nhau giữa đường trục xã C với đường nhánh vào thôn P, xã C (nơi có biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên) T phát hiện phía trước cách đầu xe ô tô khoảng 20m có xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu sơn đen trắng BKS 15H1-113.84 do anh Lương Xuân H2 điều khiển đi từ đường không ưu tiên thôn P, xã C ra đường chính để sang đường đi về hướng UBND xã C. Bị cáo phanh xe, đánh lái sang trái, đi sang phần đường ngược chiều để tránh nhưng do không kịp giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần cản trước đầu xe ô tô bên trái đã đâm va vào cánh yếm, giá để chân, cần số bên trái xe mô tô do anh H2 điều khiển làm xe mô tô đổ ra đường còn anh H2 bị hất văng, đầu đập vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô và ngã xuống đường. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo gọi xe taxi đã đưa anh H2 đến Trung tâm y tế huyện T để cấp cứu nhưng đến 07 giờ 54 phút cùng ngày, anh H2 tử vong.
Ngày 19-01-2024, Cơ quan Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm ma túy đối với bị cáo, kết quả không có nồng độ cồn trong khí thở và âm tính với ma túy.
Kết luận giám định tử thi số 22/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 21-02-2024 của Trung tâm pháp y thành phố H, kết luận thương tích của anh Lương Xuân H2: “Chấn thương sọ não gây vỡ xương thái dương trái, chấn thương ngực gây gãy xương lồng ngực bên trái. Nạn nhân Lương Xuân H2 chết vì đa chấn thương, chấn thương sọ não và chấn thương ngực nặng. Không tìm thấy E và các chất ma tuý trong máu của nạn nhân.
Tại biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường: Xác định đoạn đường xảy ra tai nạn nằm trong khu vực có biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (biển W207b). Đường rộng 8m, trải nhựa phẳng, có vạch kẻ sơn chia thành hai chiều xe riêng biệt, lấy mép đường bên trái theo hướng di chuyển của xe ô tô làm chuẩn. Xe ô tô BKS 15C-390.54 dừng phần đường bên trái, tâm trục bánh trước, bánh sau bên trái cách mép đường làm chuẩn lần lượt là 1,5m và 02m. Xe mô tô BKS 15H1-113.84 đổ nghiêng phải, ngay trước đầu xe ô tô, có tâm trục bánh trước, bánh sau cách mép đường làm chuẩn lần lượt 1,5m và 2,4m. Hiện trường để lại 02 vết phanh mờ, mỗi vết dài 4m nằm hoàn toàn phần đường bên trái, điểm đầu cách mép đường làm chuẩn lần lượt là 3,7m và 02m, điểm cuối trùng với lốp trước bên phải và bên trái xe ô tô; 02 vết cày lần lượt dài 3,1 và 2,6m, có điểm đầu cách mép đường làm chuẩn 3,1m và 2,6m, điểm cuối trùng với ốp kim loại bảo vệ ống xả và giá để chân bên phải xe mô tô.
Tại biên bản khám xe ô tô BKS 15C-390.54, phần ốp kim loại bảo vệ đầu xe, cản trước và BKS xe bị lực tác động theo chiều từ trước về sau làm cong vênh biến dạng, rời khỏi xe; kính chắn gió bị lực tác động làm vỡ nứt kích thước (80 x 60)cm. Xe mô tô BKS 15H1-113.84, yếm xe bên trái bị vỡ nứt dài 20cm; giá để chân trước bên trái, cần số bị cong vênh, biến dạng ép sát vào thân xe; giá để chân trước bên phải và mặt ngoài kim loại bảo vệ ông xả có vết trầy xước kim loại.
Tại bản Kết luận giám định số 674/KL-KTHS ngày 07-3-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “Dấu vết bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu, cong vênh kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau tại biển kiểm soát phía trước xe ô tô biển kiểm sát 15C-390.54 phù hợp với dấu vết dập, vỡ, xô lệch nhựa, mặt ngoài trượt xước mất sơn màu trắng, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ trái sang phải tại cánh yếm bên trái trên xe mô tô mang biển kiểm soát 15H1-113.84. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm”.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và Kết luận giám định số 582/KL-KTHS ngày 23-02-2024 của Phòng K1, kết luận: “Xe ô tô tải (có mui), nhãn hiệu KIA, mang biển kiểm soát 15C-390.54, chủ xe Bùi Tiến T; xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, mang biển kiểm soát 15H1-113.84, chủ xe Lương Xuân H2. Cả hai xe có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không phát hiện có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự”.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 38/KL-ĐG ngày 07-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “Xe ô tô biển kiểm soát 15C-390.54 bị thiệt hại 3.615.000 đồng. Xe mô tô biển kiểm soát 15H1-113.84 bị thiệt hại là 140.000 đồng”.
Tại Công văn số 1428/SGTVT-QLPT&NL ngày 01-4-2024 của Sở Giao thông vận tải thành phố H trả lời: “Qua tra cứu Sở G chỉ cấp Giấy phép lái xe hạng A1 số 3101320110535, cấp ngày 25-11-2013 cho Bùi Tiến T”.
Quá trình điều tra và tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 137.000.000 đồng; gia đình bị hại đã nhận lại xe mô tô BKS 15H1-113.84, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất.
Bản Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 29-8-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và trình bày: Bị cáo chưa được đào tạo và cấp giấy phép lái xe ô tô nhưng vẫn điều khiển xe ô tô BKS 15C-390.54 tham gia giao thông và gây tai nạn. Nguyên nhân do bị cáo không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong khu vực có biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên nên khi phát hiện xe mô tô của anh H2, bị cáo không kịp xử lý đã đánh lái sang trái, lấn sang phần đường ngược chiều và đâm va vào xe mô tô do H2 điều khiển làm anh H2 tử vong; ngoài ra một phần cũng do anh H2 điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, đi từ đường không ưu tiên ra đường chính không quan sát ...Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật. Bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm được về với gia đình, làm công dân tốt.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Tiến T mức án từ 36 tháng tù đến 48 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 24 tháng 4 năm 2024.
Về hình phạt bổ sung: Cấm Bùi Tiến T lái xe ô tô trong thời hạn từ 01 năm đến 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận đủ 137.000.000 đồng và chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15H1-113.84 của anh H2; không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- [1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- [2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Về tội danh và hình phạt: Lời khai của bị cáo Bùi Tiến T tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng; kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện; kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 19-01-2024, bị cáo không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, điều khiển xe ô tô BKS 15C-390.54 tham gia giao thông trên đường trục xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến khu vực có biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, bị cáo không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, đi không đúng làn đường là vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn của xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ nên đã đâm va vào xe mô tô BKS 15H1-113.84 do anh Lương Xuân H2 đang điều khiển, hậu quả anh H2 tử vong, gây hư hỏng thiệt hại xe mô tô của anh H2 là 140.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự; nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
- [4] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật.
- [5] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự công cộng, an toàn xã hội. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
- [6] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm; không chú ý quan sát, giảm tốc độ nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên vi phạm khoản 3 Điều 24 của Luật Giao thông đường bộ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [7] Xét căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào nhân thân và tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự để buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung; đồng thời xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo là thoả đáng.
- [8] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Xét thấy, bị cáo không có giấy phép lái xe ô tô, không đủ điều kiện để hành nghề lái xe ô tô nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 137.000.000 đồng; gia đình bị hại đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15H1-113.84 của anh H2; không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Bùi Tiến T, chị Vũ Thị H1 01 xe ô tô BKS 15C-390.54 (kèm theo 01 Giấy chứng nhận kiểm định và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của xe). Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15H1-113.84 cho ông Lương Văn V (là đại diện hợp pháp của gia đình bị hại) là đúng quy định pháp luật.
- [11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- [12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Tiến T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 24 tháng 4 năm 2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bùi Tiến T.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Tiến T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Bùi Tiến T, người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lương Văn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Tiến T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
