|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 61/2024/HSST Ngày 16/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
- + Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng; bà Lê Thị Huấn
- + Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Loan - Thẩm tra viên TAND thị xã Duy Tiên
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Văn S, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Toàn D và bà Đặng Thị P; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Nguyễn Đình N, sinh năm 1995; nơi cư trú: Đ, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D1 (đã chết) và bà Phạm Thị N1; vợ: Nguyễn Thị T, con: có 02 con (lớn SN 2014, nhỏ SN 2015); tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Nguyễn Thị T1, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khu dân cư B, tổ dân phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Lường Thị D2, sinh năm 2003; nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn X và bà Lù Thị H; chồng, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị K, sinh 1962; địa chỉ: thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- - Chị Hín Thị Y, sinh 1997; địa chỉ: thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- - Chị Lã Thị P1, sinh 1972; địa chỉ: tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 14/12/2023, trong lúc đang ở phòng trọ của Nguyễn Đình N thuê tại dãy trọ của gia đình bà Lã Thị P1 ở tổ dân phố D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam thì Nguyễn Thị T1 (là người yêu của N) nói với Đặng Văn S (là bạn của N) là “Có chán không”, S nói “Có”, T1 nói tiếp “Ừ đợi tí, để tao đi lấy ít ke về chơi”. Sao hiểu ý của T1 là T1 sẽ đi lấy ma túy, loại Ketamine về để cả hai người cùng sử dụng nên S đồng ý. Sau đó, T1 một mình đi ra vị trí gốc cây gần quán K2, phường H và lấy được 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy Ketamine đã được xào sẵn mà trước đó T1 đã mua của một người đàn ông tên là B (Trà không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của B là ai, ở đâu), là khách đến quán L1 với giá 1.000.000 đồng và cất giấu ở đó. Sau khi lấy được túi ma túy Ketamine, T1 đem về phòng trọ. Lúc này, S đang ngồi ở bàn máy tính, T1 lấy tờ tiền 2.000 đồng và đổ túi ma túy Ketamine ra tờ tiền này. Sao sử dụng 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cuộn thành ống hút rồi đưa cho T1 sử dụng ma túy. T1 cầm ống hút Sao đưa rồi sử dụng bằng cách dùng ống hít một phần ma túy Ketamine mà mình đổ ra trước đó qua mũi vào cơ thể rồi T1 nói với S “Có chơi không”, Sao nói “Có” và lấy chiếc đĩa sứ để ở bàn máy tính ra. Lúc này, T1 đưa cho Sao tờ tiền 2.000 đồng bên trên có chứa ma túy Ketamine, Sao cầm và đổ số ma túy Ketamine còn lại trên tờ tiền Trà đưa vào đĩa sứ, dùng bật lửa hơ dưới đáy đĩa cho ma túy Ketamine nóng lên, rồi sử dụng bằng cách dùng ống hút hít 01 đường qua mũi vào cơ thể hết số ma túy Ketamine trên đĩa. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, N đi về phòng trọ thấy S và T1 đang nằm nghỉ tại phòng trọ của mình.
Vụ thứ 2: Khoảng hơn 06 giờ ngày 14/12/2023, tại phòng trọ của Nguyễn Đình N, Đặng Văn S dùng điện thoại di động gọi điện thoại cho bạn gái là Lường Thị D2 là nhân viên phục vụ tại quán K3 thì D2 đang ngủ. Sao nói với D2 là Sao đến đón D2 về phòng trọ của N chơi thì D2 đồng ý. Sau đó, Sao mượn xe mô tô BKS 98E1–487.89 của N đi đến quán L2. Khi tới nơi, D2 chưa xuống nên S đi vào trong quán L3 thì bà Nguyễn Thị K là người giúp việc, dọn dẹp quán hát đi đến chỗ S và nói “Cô dọn phòng hát có nhặt được túi màu trắng, không biết là cái gì, con xem có dùng được không” và đưa cho Sao 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ, loại túi có kẹp nhựa, kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Sao cầm túi nilon bà K đưa và biết đó là túi ma túy Ketamine nên nói “Cô cho con xin”, rồi cất túi ma túy này vào túi áo khoác bên phải và tiếp tục ngồi chờ D2 xuống để chở D2 về. Khoảng 08 giờ cùng ngày, khi chở D2 về đến phòng trọ của N, Sao lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng mà trước đó S và T1 đã dùng để cuộn ống hút sử dụng ma túy Ketamine và 01 thẻ nhựa ATM màu đen của Ngân hàng M của N để ở cạnh máy tính rồi đem lên gác xép. Biết được cầm công cụ chuẩn bị sử dụng ma túy Ketamine nên N ở dưới bật nhạc ở máy vi tính để bàn lên để phục vụ cho mọi người sử dụng ma túy. Ngồi trên gác xép, Sao đổ túi ma túy ke ra đĩa sứ, lấy tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cuộn làm ống hút và dùng thẻ nhựa ATM kẻ 01 đường Ketamine rồi sử dụng bằng cách hít qua mũi vào cơ thể. Khi Lường Thị D2 đi lên gác xép, S hỏi D2 “Em có chơi không”, D2 nói “Có” rồi lấy đĩa ma túy Ketamine, Sao đang để trên đệm, cuộn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng thành ống hút và sử dụng bằng cách hít 01 đường ke qua mũi vào cơ thể. Lúc này, S hỏi N “Anh có chơi không”, N nói “Không”. Sau đó, D2 tiếp tục mời N sử dụng ma túy thì N đồng ý và nói “Đưa đây”. Dung cần đĩa ma túy Ketamine, cùng thẻ nhựa và tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng ở trên đĩa đưa qua lan can gác xép cho N. N đứng dậy với tay lấy đĩa ma túy ke D2 đưa, kẻ 01 đường ke và sử dụng bằng cách hít qua mũi vào cơ thể rồi đưa lại cho D2. D2 cầm đĩa ma túy ke N đưa để xuống đệm chỗ D2 và S ngồi. Thấy ma túy ke trên đĩa vẫn còn, S cầm lên sử dụng hết và để đĩa xuống đệm. Trong lúc, S, D2 và N sử dụng ma túy thì Nguyễn Thị T1 vẫn nằm ở giường trong phòng trọ. Một lúc sau, tổ công tác Công an thị xã D phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ của N, phát hiện Sao cùng các đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã thu giữ các vật chứng có liên quan và đưa các bị can về trụ sở Công an thị xã D làm việc theo quy định.
- Vật chứng thu giữ: T3 trên gác xép trong phòng trọ: 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 22cm, trong lòng đĩa có bám dính chất tinh thể màu trắng, phần đáy đĩa bên ngoài có ám khói màu đen và 01 thẻ nhựa hình chữ nhật loại thẻ ATM của Ngân hàng M1, cạnh thẻ có bám dính chất tinh thể màu trắng và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bên trong ống có bám dính chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong hộp bìa catton bì ký hiệu TG01–Tang vật thu giữ; 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ loại túi có kẹp nhựa, kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG02-Tang vật thu giữ;
+ Tạm giữ của Nguyễn Đình N: 01 di động Iphone XS màu vàng đồng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG03;
+ Tạm giữ của Đặng Văn S: 01 di động NOKIA màu xanh đen, được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG04;
+ Tạm giữ của Lường Thị D2: 01 di động Iphone 12 Promax màu xanh được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG05;
+ Tạm giữ của Nguyễn Thị T1: 01 di động Iphone 7 màu đen, được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG06.
- Khám xét khẩn cấp phòng trọ của Nguyễn Đình N thu giữ:
+ T3 tại đầu giường trong phòng trọ: 01 cây máy tính nhãn hiệu ORIENT màu đen, 01 màn hình máy tính nhãn hiệu NOC màu đen và 01 bộ loa điện tử có dây kết nối với máy tính;
+ Tạm giữ của N: 01 xe mô tô kiểu Wave màu xanh, BKS 98E1 – 487.89, số khung: RLHHC125XFY296972, số máy: HC12E7296948;
Tại bản kết luận giám định số 878/KL - KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh H, kết luận:
+ 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu đen có dòng chữ MB; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000₫ của Ngân hàng N3 trong hộp ký hiệu TG01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Ketamine;
+ Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu TG02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,246g, loại Ketamine.
- Tại bản kết luận giám định số 880/KL - KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh H, kết luận:
+ Tìm thấy chất Dehydronorketamine, N2 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu kí hiệu M1, M2 gửi giám định;
+ Tìm thấy chất ma túy ehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu kí hiệu M3, M4 gửi giám định;
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D, các bị cáo Đặng Văn S, Nguyễn Đình N, Nguyễn Thị T1 và Lường Thị D2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng bọn.
Cáo trạng số 46/CT-VKS-DT ngày 03/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Đặng Văn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Đình N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; các bị cáo Nguyễn Thị T1, Lường Thị D2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự xử phạt Đặng Văn S từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Đình N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; xử phạt Lường Thị D2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về vật chứng: Trả lại Nguyễn Đình N: 01 di động Iphone Xs; Trả lại Đặng Văn S: 01 di động NOKIA; Trả lại Lường Thị D2: 01 di động Iphone 12 Promax; Trả lại Nguyễn Thị T1: 01 di động Iphone 7 Plus. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 cây máy tính ORIENT, 01 màn hình máy vi tính nhãn hiệu NOC và 01 bộ loa điện tử đã cũ nhãn hiệu SHOCK WAVE, số tiền 2.000đ. Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa ATM; 0,207g Ketamine và tuyên án phí đối với bị các bị cáo.
Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ ngày 14/12/2023, tại phòng trọ của Nguyễn Đình N ở tổ dân phố D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Thị T1 rủ Đặng Văn S sử dụng trái phép chất ma túy và đi lấy 01 túi ma túy loại K1 đã được xào sẵn đem về phòng trọ. Sau đó, T1 đổ túi ma túy ra tờ tiền mệnh giá 2.000đ, S dùng 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ cuộn thành ống hút rồi đưa cho T1, T1 dùng ống hút này hít 01 đường ke qua mũi vào cơ thể rồi đưa ma túy và ống hút cho S sử dụng. Sao và T1 đã tổ chức cho nhau sử dụng hết túi ma túy T1 đem về rồi cả 02 nằm nghỉ tại phòng.
Khoảng 08 cùng ngày cũng tại phòng trọ của Nguyễn Đình N, Sao lấy đĩa sứ, ống hút, thẻ nhựa ATM ở bàn máy vi tính đem lên gác xép, rồi đổ túi ma túy loại Ketamine xin được của bà Nguyễn Thị K ở quán K3 trước đó ra đĩa sứ rồi cùng N và Lường Thị D2 sử dụng. Quá trình sử dụng ma túy, N là người bật nhạc máy tính, Lường Thị D2 mời và đưa đĩa ma túy Ketamine, ống hút, thẻ nhựa cho N để N sử dụng. Khi S, N và D2 sử dụng gần hết túi ma túy của Sao thì bị tổ công tác Công an thị xã D phối hợp với Công an phường H kiểm tra, phát hiện các đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên thu giữ các vật chứng có liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc theo quy định.
Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương; hành vi của Đặng Văn S nhiều lần tổ chức sử dụng chất ma tuý, đối với nhiều người đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của Nguyễn Đình N đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; hành vi của Nguyễn Thị T1, Lường Thị D2 đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4] Xét vai trò: Vụ án này thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; Đặng Văn S và Nguyễn Thị T1 là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò đầu; Nguyễn Đình N và Lường Thị D2 giữ vai trò đồng phạm.
[5] Về hình phạt: Từ nhận định trên, xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, căn cứ vai trò nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để ấn định mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp thực tế.
[6] Về các hành vi khác: Trong vụ án này do không xác định được người đàn ông tên B đã bán ma túy cho Nguyễn Thị T1 (theo Trà khai báo) là ai, ở đâu nên không có căn cứ làm rõ. Đối với bà Nguyễn Thị K trong quá trình quét dọn phòng hát của quán K3 đã nhặt được túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nhưng không biết đó là gói ma túy, hành vi của bà K không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không xử lý là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô Bks 98E1-487.89, số khung: RLHHC125XFY296972, số máy: HC12E7296948 tạm giữ của Nguyễn Đình N: Nguyên khai nhận: Khoảng đầu năm 2020, N mua chiếc xe này của 01 người đàn ông không quen biết ở khu vực Phố N, tỉnh Hưng Yên với giá 3.000.000đ để làm phương tiện đi lại, khi mua xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe, hai bên không viết giấy tờ gì. Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 98E1 – 487.89 là tài sản hợp pháp của chị Hín Thị Y, chị Y khai bị kẻ gian lấy trộm chiếc xe trên vào ngày 25/7/2019 khi chị đi làm vườn ở thôn M. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã có văn bản trao đổi thông tin này tới Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang để điều tra, xác minh theo thẩm quyền, đồng thời tách chiếc xe mô tô BKS 98E1-487.89 ra để xử lý sau.
Đối với 01 di động Iphone Xs đã cũ có IMEI 357209093464101 thu của Nguyễn Đình N; 01 di động NOKIA đã cũ có IMEI 357723113640052 thu của Đặng Văn S; 01 di động Iphone 12 Promax đã cũ có IMEI 355660526177607 thu của Lường Thị D2; 01 di động Iphone 7 Plus đã cũ có IMEI 359468082653904 thu của Nguyễn Thị T1 đây là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan và sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với 01 cây máy tính ORIENT đã cũ và màn hình máy vi tính nhãn hiệu NOC màu đen và 01 bộ loa điện tử đã cũ nhãn hiệu SHOCK WAVE, có dây kết nối, là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 đĩa sứ đường kính 22cm, 01 thẻ nhựa ATM có dòng chữ MB được niêm phong trong hộp niêm phong số 878/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “mẫu vật hoàn trả TG01” cần tịch thu cho tiêu huỷ.
Đối với số tiền 2.000đ được niêm phong trong hộp niêm phong số 878/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “mẫu vật hoàn trả TG01” cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 0,207g Ketamine được niêm phong trong phong có số 878/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “mẫu vật hoàn trả TG02” cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-
Về hình sự:
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Văn S.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình N.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Nguyễn Thị T1 và Lường Thị D2.
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn S, Nguyễn Đình N, Nguyễn Thị T1, Lường Thị D2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- - Đặng Văn S 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
- - Nguyễn Đình N 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
- - Nguyễn Thị T1 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
- - Lường Thị Dung 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại Nguyễn Đình N: 01 di động Iphone Xs đã cũ có IMEI 357209093464101; Trả lại Đặng Văn S: 01 di động NOKIA đã cũ có IMEI 357723113640052; Trả lại Lường Thị D2: 01 di động Iphone 12 Promax đã cũ có IMEI 355660526177607; Trả lại Nguyễn Thị T1: 01 di động Iphone 7 Plus đã cũ có IMEI 359468082653904.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 cây máy tính ORIENT đã cũ và màn hình máy vi tính nhãn hiệu NOC màu đen và 01 bộ loa điện tử đã cũ nhãn hiệu SHOCK WAVE. Số tiền 2.000đ được niêm phong trong hộp niêm phong số 878/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “mẫu vật hoàn trả TG01”.
- Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 đĩa sứ đường kính 22cm, 01 thẻ nhựa ATM có dòng chữ MB được niêm phong trong hộp niêm phong số 878/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “mẫu vật hoàn trả TG01”; 0,207g Ketamine được niêm phong trong phong có số 878/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “mẫu vật hoàn trả TG02".
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc các bị cáo Đặng Văn S, Nguyễn Đình N, Nguyễn Thị T1, Lường Thị D2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Thuận |
Bản án số 61/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 61/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sao cùng đồng bọ phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
