|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 61/2024/HSST Ngày: 26-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo. |
|
|
Hội thẩm nhân dân. |
Ông Nguyễn Công Danh. |
|
Ông Nguyễn Thanh An. |
|
|
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc. |
|
|
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên. |
|
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST - HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Ngọc Đ, sinh ngày: 04/11/1991.
Nơi thường trú: 1 Đ, Phường A, Quận B, Tp .; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Ngọc T và bà Phan Thị Kim N; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: có hai tiền án: Bản án số 61/2016/HSST, ngày 29/3/2016, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp . xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2016 và Bản án số 210/2017/HSST, ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp . xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2019, đã đóng án phí, nhưng chưa bồi thường dân sự số tiền 3.200.000 đồng nên chưa được xóa án tích; Nhân thân: Quyết định số 81/QĐ-CSHS, ngày 31/01/2024, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản cáo trạng số 169/CT-VKSNT, ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Đồng Nai truy tố về tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị tạm từ ngày 26/3/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Tịnh thất Bát N1.
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Có Đại đức Thích Tắc T1, thế danh Trần Văn N2, sinh năm: 1969. Là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ngô Thị Thanh H, sinh năm: 1988 (vắng mặt).
Cư trú: 1 Đ, Phường A, quận B, Tp .
Người làm chứng: Phạm Hoàng L, sinh năm: 1962 (vắng mặt).
Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, Đặng Thế P và Trương Ngọc Đ cùng rủ nhau đi tìm tài sản lấy trộm. P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ đen, BKS 59S1 - 282.32 (xe do chị Ngô Thị Thanh H, vợ P đứng tên chủ sở hữu) chở Đ đi từ Tp . đến địa bàn huyện C, tỉnh Long An. Khi cả hai đến chùa T2 thuộc ấp P, xã P, huyện C do đại đức Thích Tắc T1, thế danh Trần Văn N2 làm trụ trì, P điều khiển xe chở Đ vô trong khuôn viên chùa, cả hai đi vào chánh điện, thấy cái chuông kim loại bằng đồng cao 45cm, đường kính 59 cm, dày 03cm, trọng lượng 53kg nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. P và Đ quan sát xung quanh thấy không có ai, cả hai lén lút cùng nhau khiêng cái chuông đồng đem ra xe, khi khiêng ra khỏi chánh điện thì bị ông Phạm Hoàng L, là người đang tu tại chùa phát hiện truy hô, nên cả hai lên xe tẩu thoát, bỏ lại cái chuông. Khoảng 05 phút sau, Đ và P điều khiển xe quay lại, tiếp tục lấy trộm cái chuông, nhưng khi Đ vừa kéo chuông đi được một đoạn thì bị ông L phát hiện truy hô, Đ bỏ lại cái chuông, lên xe P chở đi tẩu thoát. Đến ngày 26/7/2023, cơ quan chức năng phát hiện P và Đ nên mời làm việc, cả hai đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong thời gian điều tra vụ án, bị cáo Đ bỏ trốn, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy nã số 08/QĐ-CSĐT, ngày 27/11/2023 đến ngày 26/3/2024 bị cáo Đ bị bắt theo quyết định truy nã.
Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) chuông kim loại
đồng, cao 45cm, đường kính 59cm, dày 3cm, nặng 53kg (tài sản thu hồi được) trị giá 8.777.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSCG, ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trương Ngọc Đ từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: đại diện bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường.
Đối với 01 (một) cái chuông đồng, trọng lượng 53kg Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại, là phù hợp; đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ đen, BKS 59S1-282.32 thuộc sở hữu của chị Ngô Thị Thanh H (vợ Đặng Thế P) việc P và bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, chị H không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H, là phù hợp.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo trong lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, bị cáo Đ và Đặng Thế P thống nhất cùng nhau lén lút lấy trộm 01 (một) chuông kim loại bằng đồng, cao 45cm, đường kính 59cm, dày 3cm, nặng 53kg của chùa T2, do đại đức Thích Tắc T1, thế danh Trần Văn N2 làm trụ trì. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời bị cáo Đ và P làm việc và cả hai đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Theo Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS, ngày 26/7/2023 kết luận giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 8.777.000 đồng. Tài sản bị cáo Đ cùng P chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Bị cáo Đ có hai tiền án, cụ thể: Bản án số 61/2016/HSST, ngày 29/3/2016, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp . xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2016 và Bản án số 210/2017/HSST, ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp . xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2019, đã đóng án phí, nhưng chưa bồi thường dân sự số tiền 3.200.000 đồng nên chưa được xóa án tích. Vì theo Công văn số 64/TANDTC-PC, ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao, thì điều kiện để đương nhiên được xóa án tích là sau khi chấp hành hình phạt chính và phải chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Do đó bị cáo Đ vẫn có hai tiền án, nên lần phạm tội này của bị cáo Đ thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự. Thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo Đ cùng Đặng Thế P khi thực hiện hành vi phạm tội tuy có thống nhất ý chí, nhưng không có sự bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ nên không xem xét đến tình tiết định khung hình phạt là phạm tội có tổ chức.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo và P khi khiêng chuông ra xe bị phát hiện, lên xe bỏ chạy, khoảng 05 phút sau cả hai quay lại tiếp tục lấy trộm chuông là hành vi “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo “Phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: theo Quyết định số 81/QĐ-CSHS, ngày 31/01/2024, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai khởi tố bị can Trương Ngọc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” và theo Bản cáo trạng số 169/CT-VKSNT, ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Đồng Nai truy tố Trương Ngọc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[8] Trong quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng (bị bắt theo Quyết định truy nã). Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[9] Đối với Đặng Thế P, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2023/HSST, ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù.
[10] Về tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả cho bị hại 01 (một) cái chuông đồng cao 45cm, đường kính 59cm, dày 03 cm, trọng lượng 53kg, là phù hợp; đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ đen, BKS 59S1-282.32 thuộc sở hữu của chị Ngô Thị Thanh H (vợ Đặng Thế P) cho P mượn sử dụng, việc P cùng bị cáo Đ sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, chị H không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H, là phù hợp.
[11] Về trách nhiệm dân sự: đại diện bị hại đại đức Thích Tắc T1, đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa vắng mặt nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 112) không yêu cầu, nên không xem xét. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Ngô Thị Thanh H tại phiên tòa vắng mặt nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 110) không yêu cầu, nên không xem xét.
[12] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trương Ngọc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trương Ngọc Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/3/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (26/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 26 tháng 7 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 26 tháng 7 năm 2024.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh.
Ông Nguyễ Thanh An.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS, ngày 16/7/2024 đối với bị cáo: Trương Ngọc Đạt.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trương Ngọc Đạt phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Trương Ngọc Đạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/3/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (26/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 15 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA |
|
NGUYỄN CÔNG DANH – NGUYỄN THANH AN NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
Bản án số 61/2024/HSST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Ngọc Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản"
