TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 61/2024/HS-ST
Ngày: 26/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Khánh và Trương Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký TAND huyện Thạch Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Cương, Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ, 30 phút, ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/TLST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đinh Thị Vân A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20/6/1987 tại: thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đinh N; Sinh năm: 1963; Con bà: Trần Thị Hồng D; Sinh năm: 1963; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Nguyễn Thanh H; Sinh năm: 1984; (đã ly hôn); Con: 01 người con sinh 2007; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Vi Thị D1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 18/6/1990 tại: xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối phố H, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông: Vi Văn C; Sinh năm: 1962; Con bà: Hà Thị V; Sinh năm: 1962; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 4; Chồng: Chưa; Con: 02 người con, con lớn sinh 2012, con nhỏ nhất sinh 2020. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Đặng Công H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/3/1997 tại: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đặng Hữu M(đã mất); Con bà: Đặng Thị T; Sinh năm: 1965;Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Hoàng Thị N1; Sinh năm: 2003; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con: Có 01 người con sinh năm 2024; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Đậu Văn H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/10/1988 tại xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đậu Xuân T1; Sinh năm: 1962; Con bà: Nguyễn Thị H3; Sinh năm: 1969; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Ngô Thị H4; Sinh năm: 1992; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 02 người con, lớn sinh 2018, nhỏ sinh 2020. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Hồ Văn T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/11/1994 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Hồ N2; Sinh năm: 1967; Con bà: Dương Thị N3 (Đã mất); Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, Con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Nguyễn Hữu Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/9/1994 tại: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Phóng viên; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Công H5; sinh năm: 1962; Con bà: Trần Thị L; Sinh năm: 1960; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 4; Vợ: Đậu Thị N4; sinh năm: 1995; Con: Có 03 người con, lớn nhất sinh 2015, nhỏ nhất sinh 2024. Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.
(Các bị cáo có mặt tại phiên toà)
* Người bào chữa cho các bị cáo Vi Thị D1, Đinh Thị Vân A: Luật sư Nguyễn Xuân H6 – Luật sư ký hợp đồng thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. (Có đơn xin vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Q: Luật sư Nguyễn Trọng N5 thuộc Công ty L1 – Chi nhánh M1. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đậu Thị N4, sinh năm: 1995; Địa chỉ: thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
- Ông Nguyễn Đình V1, sinh năm 1966; Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
- Chị Trần Thị N6, sinh năm: 1987; Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt)
- Anh Kiều Văn S, sinh năm: 2005; Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Sinh viên. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn A1, sinh năm: 1993; Địa chỉ: thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 18/6/2024, Vi Thị D1 tổ chức sinh nhật tại nhà hàng T3 ở thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, buổi sinh nhật có Đinh Thị Vân A, Nguyễn Hữu Q, Đặng Công H1, Đậu Văn H2 cùng một số người bạn của D1 đến tham dự. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, cả nhóm đến hát Karaoke tại quán L2 tại thị trấn T, huyện C. Quá trình hát Karaoke, do muốn sử dụng ma túy nhưng không có tiền mua ma túy, Vi Thị D1 nhắn tin cho Đinh Thị Vân A với nội dung “Buồn không có tiền lấy đồ chơi hỉ”. Do cũng muốn sử dụng ma túy, Đinh Thị Vân A nhắn tin với Vi Thị D1 trao đổi bàn bạc nói mọi người góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Đinh Thị Vân A gặp, nói chuyện với Đậu Văn H2 về việc hôm nay sinh nhật D1, muốn lấy ít đồ chơi mà chưa đủ tiền, H2 đồng ý góp 2.000.000 đồng để mua ma túy và chuyển khoản cho Đinh Thị Vân A số tiền 2.000.000 đồng. Quá trình hát karaoke, Đinh Thị Vân A nhắn tin cho bạn là Hồ Văn T2 rủ góp 1.000.000 đồng để mua ma túy đi bay lắc, Hồ Văn T2 đồng ý và chuyển khoản 1.000.000đ cho Vân A. Cùng lúc đó, Vi Thị D1 chuyển khoản cho Đinh Thị Vân A số tiền 900.000 đồng và đưa số tiền 900.000 đồng tiền mặt cho Đinh Thị Vân A để góp tiền mua ma túy. Đinh Thị Vân A góp số tiền 700.000 (Tiền mượn của bạn là Nguyễn Văn A1, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã C, huyện C trước đó để dự kiến trả tiền karaoke). Tổng cộng số tiền góp được để mua ma túy là 5.500.000 đồng. Khi đã gom được đủ tiền để mua ma túy thì Vân A nhắn tin cho chị Nguyễn Thị N7, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh là quản lý tại quán K ở xã N để đặt phòng hát và xin nợ tiền phòng và được chị N7 đồng ý.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi hát tại quán karaoke Lệ H7 xong, bạn bè của Vi Thị D1 về hết còn lại Nguyễn Hữu Q, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu văn H2. Lúc này, Đinh Thị Vân A nói với cả nhóm lên quán K ở xã N lấy “đồ” để chơi (ý là lấy ma túy để sử dụng) và nói với Đặng Công H1 gọi điện thoại đặt phòng hát, H1 đã gọi điện cho chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phòng. Sau đó, Đặng Công H1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-406.99 của Nguyễn Hữu Q là chủ sở hữu chở Đinh Thị Vân A ngồi ở ghế phụ, Nguyễn Hữu Q, Vi Thị D1, Đậu Văn H2 ngồi phía sau, di chuyển từ thị trấn T để về quán K ở xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Khi xe ô tô đến xã C, huyện C, Đinh Thị Vân A bảo Đặng Công H1 đặt mua 03 viên Kẹo và nửa hộp Ke (nghĩa là 03 viên ma túy dạng kẹo và 01 gói ma túy dạng Ketamine) nhưng sau đó Vân A nói có bạn góp tiền để mua ma túy về cùng sử dụng nên bảo Đặng Công H1 đặt mua 04 viên mua kẹo và 01 nửa hộp Ke. Đặng Công H1 gọi điện thoại đến số điện thoại 0947.024.xxx của một người phụ nữ H1 quen trước đó khi đi quán bar, lưu trong danh bạ là “Xe Sơn La 2” để đặt mua ma túy và được người bán ma túy đồng ý và yêu cầu chuyển tiền mua ma túy là 5.500.000 đồng đến số tài khoản 17184791 ngân hàng A2, mang tên KIEU VAN SON. Đặng Công H1 đọc số tài khoản người bán ma túy cho Đinh Thị Vân A, Vân A đã chuyển khoản 5.500.000 đồng đến số tài khoản người bán ma túy như H1 đã cung cấp. Một lúc sau thì người bán ma túy nhắn tin cho H1 với nội dung ma túy được đựng trong phong bì và để ở thùng xốp tại số nhà G đường B, thành phố H. Đặng Công H1 điều khiển xe đến vị trí như người bán ma túy nói và xuống lấy 01 phong bì giấy bên trong có 01 gói đựng 04 viên dạng kẹo và 01 gói Ke. Khi lên xe, Đặng Công H1 lấy 02 túi ni lông đựng ma túy ra cho mọi người xem rồi vứt phong bì giấy. Trên đường đi đến quá karaoke 68, Đặng Công H1 lấy gói ma túy kẹo đưa cho Đậu Văn H2 và nói nhờ H2 bẻ chia cho mọi người để sử dụng trước. Đậu Văn H2 bẻ đôi 04 viên ma túy dạng kẹo ra rồi chia cho mỗi người một phần, Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1 đã lấy để sử dụng, riêng Nguyễn Hữu Q thì không sử dụng ma túy nên đưa cho Đặng Công H1, H1 do đang lái xe nên cầm trên tay chưa sử dụng. Chia xong thì H2 để số ma túy còn lại ở trên xe ô tô của Q, còn H2 chỉ ngậm một lúc sau đó nhả ra và giấu dưới dép. Sau khi sử dụng ma túy dạng kẹo, để tăng hưng phấn, muốn bay lắc nên mọi người bảo Nguyễn Hữu Q mở nhạc nên Q đã sử dụng điện thoại của mình đang kết nối Bluetooth với xe ô tô phát nhạc remix cho mọi người nghe.
Khi đến quán K ở xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh thì tất cả xuống xe vào phòng hát đã đặt trước, Đặng Công H1 cầm gói ma túy Ketamine và 02 phần của viên ma túy dạng kẹo lên phòng hát. Tại phòng hát, Đặng Công H1 sử dụng một phần viên ma túy dạng kẹo, một phần viên ma túy dạng kẹo còn lại do biết có bạn của Đinh Thị Vân Á sẽ đến nên H1 để ở trên bàn trong phòng hát. Một lúc sau, Hồ Văn T2 đến tham gia, thấy có một phần viên ma túy dạng kẹo để ở bàn nên T2 lấy sử dụng. Đến 23 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện T phát hiện bắt quả tang các đối tượng nói trên đang phê ma túy tại phòng số 2 của quán K tại xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình bắt giữ đã phát hiện, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Đặng Công H1 01 gói chứa chất tinh thể rắn màu trắng.
- Kết quả test nhanh tại chỗ: Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu Văn H2, Hồ Văn T2 dương tính với chất ma túy MDMA, riêng Nguyễn Hữu Q âm tính với các chất ma túy.
- Kết quả xét nghiệm ma túy tại Trung tâm y tế huyện T: Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Hồ Văn T2 dương tính với chất ma túy MDMA, Methamphetamine, còn Đậu Văn H2, Nguyễn Hữu Q âm tính với các chất ma túy.
- Tại Kết luận giám định số 854/KL-KTHS, ngày 24/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể rắn trong túi ni lông trong suốt gửi đi giám định mà ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 1,9341 gam.
* Vật chứng liên quan đến vụ án gồm:
- - 01 túi ni lông trong suốt chứa 1,9341 gam chất tinh thể rắn màu trắng (thu giữ của Đặng Công H1 khi bắt người phạm tội quả tang);
- - 01 vỏ lon Cocacola màu đỏ đã sử dụng hết;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max màu ghi, có số IMEI1: 353776390363891; IMEI2: 353776390290623; đã qua sử dụng, mặt lưng đã bị nứt; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0844444628 (Thu giữ của Đặng Công H1);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 866787058393856; IMEI 2: 866787058393849; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0961590454 (Thu giữ của Vi Thị D1);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 865039062548112; IMEI 2: 865039062548104; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0948923668 (Thu giữ của Đậu Văn H2)
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max đã qua sử dụng, số IMEI 1: 356728112825712; IMEI 2: 356728112995549; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0973647456 (Thu giữ của Nguyễn Hữu Q);
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99 đã qua sử dụng cùng 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: [...] mang tên Nguyễn Hữu Q. Theo kết quả định giá tài sản chiếc xe trị giá: 390 triệu đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh nhạt, số IMEI 1: 352288969402713; IMEI 2: 352345599402719 đã qua sử dụng; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0896970938 (Thu giữ của Hồ Văn T2);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen đã qua sử dụng, kính màn hình đã bị nứt, số IMEI 1: 357368581803764; IMEI 2: 357497681803760; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0988480456 (Thu giữ của Đinh Thị Vân A).
Tại cáo trạng số 63/CT-VKSTH, ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu Văn H2, Hồ Văn T2, Nguyễn Hữu Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 Điều 255 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu Văn H2, Hồ Văn T2, Nguyễn Hữu Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Đinh Thị Vân A từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; xử phạt Vi Thị D1, Đặng Công H1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (19/6/2024).
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Đậu Văn H2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (19/6/2024).
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Hồ Văn T2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (19/6/2024).
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 54 BLHS xử phạt Nguyễn Hữu Q từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi ni lông trong suốt chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy Ketamine có khối lượng 1,9128 gam (sau khi trích mẫu giám định không hoàn lại 0,0213 gam) cùng với vỏ bao, bao gói cũ được bọc vào một phong bì thư có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” dán kín mép, trên mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 vỏ lon Cocacola màu đỏ đã sử dụng hết.
- + Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước: ½ (một phần hai) giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99 và 06 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo dùng để liên lạc, trao đổi, bàn bạc về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Trả lại cho chị Đậu Thị N4 1/2 giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99, đăng ký mang tên Nguyễn Hữu Q.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Luật sư Nguyễn Xuân H6 có đơn xin vắng mặt tại phiên toà nhưng có bản bào chữa cho bị cáo Đinh Thị Vân A và Vi Thị D1 với nội dung: thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh, điều khoản truy tố và các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với hai bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì. Luật sư chỉ đề nghị HĐXX xem xét: sau khi phạm tội bị cáo Vân A và bị cáo D1 đã nhận thức được lỗi lầm, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; hoàn cảnh gia đình hai bị cáo rất khó khăn, đều thuộc hộ cận nghèo và đang nuôi con nhỏ; bị cáo D1 là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế để từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.
- Luật sư Nguyễn Trọng N5 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Q với nội dung: Đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu Q, người bào chữa không có ý kiến gì tranh luận về những vấn đề trên. Người bào chữa cho rằng vị trí, vai trò của của bị cáo Q trong vụ án là thấp nhất, bị cáo không bàn bạc, không tham gia góp tiền, cũng như không sử dụng ma tuý mà chỉ cho các đối tượng sử dụng xe của mình để đi mua ma tuý; bản thân bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS xử bị cáo dưới khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quyết định, hành vi của Cơ quan và những người tiến hành tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, khẳng định các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 45 phút ngày 19/6/2024, tại quán K tại xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu Văn H2, Hồ Văn T2, Nguyễn Hữu Q đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 1,9341 gam ma túy Ketamine các bị cáo chưa kịp sử dụng.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó: Vi Thị D1 là người khởi xướng, còn Đinh Thị Vân A là người thực hành tích cực, nhắn tin kêu gọi các bị cáo khác góp tiền, liên hệ đặt phòng Karaoke để tổ chức sử dụng ma túy; Đặng Công H1 là người liên hệ và trực tiếp lái xe đi lấy ma túy, sau đó đưa ma túy cho Đậu Văn H2 để chia cho mọi người sử dụng và cất giấu số ma túy còn lại; bị cáo Đậu Văn H2, Hồ Văn T2 góp tiền và tham gia vào việc sử dụng ma tuý; Nguyễn Hữu Q mặc dù không góp tiền cũng như không sử dụng ma tuý nhưng đã cho các đối tượng sử dụng xe ô tô của mình để đi mua ma túy và đưa các bị cáo đến địa điểm sử dụng ma túy nên giữ vai trò đồng phạm giúp sức.
[3]. Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảỉ” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Hữu Q được hưởng tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” (Có hồ sơ xác nhận của Công an huyện T) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t, khoản 1, Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo Q còn có bố đẻ là ông Nguyễn Công H5 – nguyên là Chủ tịch UBND xã T, trong quá trình công tác có nhiều cống hiến cho địa phương, được tặng thưởng nhiều Bằng khen, giấy khen; có ông nội là liệt sỹ, bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo Đậu Văn H2 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Lữ Đoàn phòng không được tặng danh hiệu “Chiến sỹ tiên tiến”, có bố là Đậu Xuân T1 từng tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia; Bị cáo Đặng Công H1 trong thời gian làm Bí thư chi đoàn thôn T, xã N, huyện T có thành tích được Huyện Đ tặng Giấy khen; Bị cáo Đinh Thị Vân A và Vi Thị D1 đều có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội và căn cứ quyết định hình phạt: Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo như đã nêu trên, HĐXX xét thấy: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương; là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật khác.
Xét vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: bị cáo Đinh Thị Vân A và Vi Thị D1 là hai bị cáo giữ vai trò chính, trong đó Vi Thị D1 là người khởi xướng, thống nhất với Đinh Thị Vân A nhắn tin rủ rê, kêu gọi các đối tượng khác góp tiền, lên kế hoạch để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên phải chịu hình phạt cao nhất, cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để răn đe, giáo dục và cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như có điều kiện tránh xa với tệ nạn ma tuý. Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho hai bị cáo đều là phụ nữ đơn thân, đang nuôi con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thuộc đối tượng hộ cận nghèo để từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Đối với các bị cáo Đặng Công H1, Đậu Văn H2 và Hồ Văn T2 giữ vai trò đồng phạm tích cực, trong đó bị cáo H1 là người trực tiếp liên hệ, giao dịch và điều khiển xe của bị cáo Q đi đến địa điểm lấy ma tuý về cho các đối tượng sử dụng; còn bị cáo H2 và T2 là những người góp tiền và cùng tham gia vào việc tổ chức sử dụng ma tuý nên cũng cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với vị trí, vai trò của từng bị cáo. Đồng thời, cũng cần xem xét cho bị cáo H1, H2 và T2 sau khi phạm tội đã nhận thức được lỗi lầm, thành khẩn khai báo, lần đầu vi phạm pháp luật để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Hữu Q, mặc dù bị cáo không tham gia vào việc góp tiền, không sử dụng ma tuý, song việc bị cáo Q đồng ý cho H1 sử dụng xe ô tô của mình chở các đối tượng đi mua ma tuý và đến nơi tổ chức sử dụng trái pháp chất ma tuý nên Q cũng phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo Q trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, là phóng viên của Tạp chí Việt Nam hương sắc, tích cực tham gia phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm, được Công an huyện T xác nhận đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt; bố bị cáo nguyên là Trưởng Công an, Chủ tịch UBND xã T, có nhiều đóng góp cho địa phương, được tặng thưởng nhiều Bằng khen, Giấy khen, để từ đó xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và xét vị trí, vai trò của bị cáo trong vụ án thấy rằng việc áp dụng Điều 54 BLHS xử bị cáo Q dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hầu hết làm nghề tự do, mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[5]. Về xử lý vật chứng: Quá trình phát hiện bắt quả tang, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 túi ni lông trong suốt chứa 1,9341 gam chất tinh thể rắn màu trắng; 01 vỏ lon Cocacola màu đỏ đã sử dụng hết; 06 chiếc điện thoại di động; 01(một) chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99 đã qua sử dụng cùng 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: [...] mang tên Nguyễn Hữu Q. Theo kết quả định giá tài sản của cơ quan chuyên môn xác định trị giá chiếc xe tại thời điểm định giá là: 390 triệu đồng.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, cần xử lý số vật chứng trên như sau:
- - Đối với số ma tuý thu giữ là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ;
- - Đối với 06 chiếc điện thoại thu giữ các bị cáo là những công cụ, phương tiện đều có liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (các bị cáo dùng để liên lạc, trao đổi việc góp tiền, liên hệ mua ma tuý) nên cần tịch thu, xử lý để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99 đăng ký mang tên Nguyễn Hữu Q. Đây là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Hữu Q và chị Đậu Thị N4 hình thành từ nguồn vay ngân hàng S1 (Có Hợp đồng tín dụng vay vốn với mục đích mua xe ô tô ngày 26/10/2023 lưu tại hồ sơ vụ án); việc bị cáo Q cho các đối tượng sử dụng xe đi mua ma tuý, chị N4 không biết nên cần xem xét tịch thu ½ giá trị chiếc xe trên để nộp ngân sách Nhà nước; còn ½ giá trị chiếc xe trả lại cho chị Đậu Thị N4 là phù hợp.
[6]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
[8]. Các vấn đề khác:
- - Đối với số ma túy Ketamine còn lại thu giữ trên người Đặng Công H1 khi bắt quả tang là ma túy các bị cáo góp tiền mua về để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, có căn cứ xác định nếu cơ quan chức năng không phát hiện bắt quả tang thì các bị cáo sẽ sử dụng hết số ma túy này nên HĐXX không xem xét trách nhiệm hình sự các bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
- - Đối với chị Trần Thị N6, sinh năm 1987, trú tại ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang là người đăng ký chủ sở hữu số thuê bao 0947024734. Kết quả điều tra xác định: chị N6 không đăng ký và không sử dụng số thuê bao này nên không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
- - Đối với anh Kiều Văn S, sinh ngày 29/7/2005, trú tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là người đăng ký chủ tài khoản ngân hàng số 17184791 tại Ngân hàng TMCP Á (A2). Kết quả điều tra xác định: anh S là sinh viên Trường Đại học S2, trong quá trình học tại Hà Nội thông qua mạng Facebook, S được được người khác thuê đăng ký tài khoản nói trên nhưng không dùng số tài khoản này và không biết việc người khác sử dụng số tài khoản này để giao dịch mua bán ma túy nên chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Kiều Văn S. Việc cho người khác thông tin cá nhân để mở tài khoản ngân hàng là vi phạm pháp luật. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển thông tin về hành vi vi phạm trên của Kiều Văn S đến cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
- - Đối với người bán ma túy cho các bị cáo, do thông tin các bị cáo cung cấp không đầy đủ nên chưa đủ căn cứ xử lý. Hội đồng xét xử yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với anh Nguyễn Đình V1, sinh năm 1966 (chủ quán K); chị Nguyễn Thị N7, sinh năm 1991 (quản lý của Karaoke 68); anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1989 (phục vụ của quán K) đều thường trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh không biết việc các bị cáo thuê phòng hát để tổ chức sử dụng ma túy nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
- - Đối với anh Nguyễn Văn A1, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh là người cho bị cáo Đinh Thị Vân A mượn số tiền 700.000 đồng. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn A1 không biết bị cáo Đinh Thị Vân A sử dụng số tiền này để mua ma túy nên không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu Văn H2, Hồ Văn T2, Nguyễn Hữu Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Thị Vân A 08(tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Vi Thị D1 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đặng Công H1 07(bảy) năm, 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đậu Văn H2 07(bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Văn T2 07(bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 04(bốn) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi ni lông trong suốt chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy Ketamine có khối lượng 1,9128 gam (sau khi trích mẫu giám định không hoàn lại 0,0213 gam) cùng với vỏ bao, bao gói cũ được bọc vào một phong bì thư có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” dán kín mép, trên mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 vỏ lon Cocacola màu đỏ đã sử dụng hết.
- + Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước các vật chứng trong vụ án gồm:
- - ½ (một phần hai) giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99, đăng ký chủ sử dụng mang tên Nguyễn Hữu Q.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max màu ghi, có số IMEI1: 353776390363891; IMEI2: 353776390290623; đã qua sử dụng, mặt lưng đã bị nứt; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0844444628 (Thu của Đặng Công H1);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 866787058393856; IMEI 2: 866787058393849; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0961590454 (Thu của Vi Thị D1);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 865039062548112; IMEI 2: 865039062548104; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0948923668 (Thu của Đậu Văn H2)
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max đã qua sử dụng, số IMEI 1: 356728112825712; IMEI 2: 356728112995549; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0973647456 (Thu của Nguyễn Hữu Q);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh nhạt, số IMEI 1: 352288969402713; IMEI 2: 352345599402719 đã qua sử dụng; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0896970938 (Thu của Hồ Văn T2);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen đã qua sử dụng, kính màn hình đã bị nứt, số IMEI 1: 357368581803764; IMEI 2: 357497681803760; gắn thẻ sim mang số thuê bao 0988480456 (Thu của Đinh Thị Vân A).
- + Trả lại cho chị Đậu Thị N4 ½ (một phần hai) giá trị chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu HYNDAI loại ACCENT số máy: G4LCMG031765; số khung: RLUA741BBMN067985 màu đỏ, BKS: 38A-406.99, đăng ký chủ sử dụng mang tên Nguyễn Hữu Q.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc các bị cáo Đinh Thị Vân A, Vi Thị D1, Đặng Công H1, Đậu Văn H2, Hồ Văn T2, Nguyễn Hữu Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhân |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh THị Vân Anh và ĐP
