|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HS-PT
Ngày: 23/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Đậu Thị Quy;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Phụng T và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Phụng T, Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Phụng H (đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1968; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Huỳnh Ngọc P (Tên gọi khác: T1 em), Sinh ngày 13 tháng 6 năm 1999 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Huỳnh Ngọc Y, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1975; Có vợ: Nguyễn Thị Hồng Á, sinh năm 2000 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Phạm Hồng D, Trương Nguyễn Kim T2, Nguyễn Tống H1, Trương Thị Cẩm T3 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Một ngày trong tháng 9 năm 2022, Trương Thị Cẩm T3 gặp một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) tại Bến xe M- thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy loại Methamphetamine. Sau đó, T3 đón xe ô tô khách về nhà ở khu phố N- phường I- thành phố T- tỉnh Phú Yên để phân nhỏ ma túy bán cho người khác để kiếm lời. Khoảng 19h00' ngày 21/10/2022, Phạm Hồng D gọi điện thoại cho Trương Thị Cẩm T3 để mua ma túy. Tiên đồng ý. Sau đó, D đi đến cổng sau Bệnh viện Đa khoa tỉnh P thuộc phường I- thành phố T gặp T3 để nhận ma túy và đưa cho T3 số tiền 500.000 đồng.
Đến khoảng 20h00' cùng ngày, D mang ma túy đón xe buýt từ thành phố T về đến nhà nghỉ H2 ở khu phố L- thị trấn L- huyện Đ (do chị Trần Thị Thì L làm chủ) thuê phòng số 108 rồi liên lạc với Trương Nguyễn Kim T2 đến để cùng sử dụng ma túy. Khi T2 đến phòng số 108, D lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã chuẩn bị sẵn nhưng thiếu ống hút nhựa nên T2 gọi điện thoại nhờ Lương Chí C mua mang đến rồi C đi về còn D và T2 thay phiên nhau sử dụng ma túy. Lúc này, D gọi điện thoại cho Nguyễn Văn N đến phòng số 108 và cả ba cùng nhau sử dụng mà túy. Một lúc sau, N đi về còn lại D, T2 tiếp tục sử dụng ma túy và T2 đưa cho D 100.000 đồng để góp vào số tiền mà D đã bỏ ra để mua ma túy. Trong quá trình ở tại phòng 108, D và T2 thống nhất với nhau sẽ bán ma túy cho người khác để lấy tiền.
Đến khoảng 21h00' cùng ngày, Lê Phụng T (lúc này cũng đang ở phòng số 101 của nhà nghỉ H2) gọi điện thoại cho T2 hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng. D và T2 đồng ý. T2 nhận gói ma túy từ D phân nhỏ bỏ vào một đoạn ống hút nhựa rồi T2 mang đến phòng số 101 giao cho T và nhận 250.000 đồng (T đưa 100.000 đồng, chuyển khoản 150.000 đồng). T2 không giao cho D số tiền 250.000 đồng mà gọi điện thoại nhờ Nguyễn Văn N chuyển khoản cho D số tiền 290.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T gọi điện thoại rủ Nguyễn Tống H1 đến và cả hai cùng nhau sử dụng hết số ma túy vừa mua được. Đến sáng ngày 22/10/2022, cả hai đi về nhà. Đến khoảng 11h00' cùng ngày, T và H1 thống nhất cùng góp tiền để mua ma túy tiếp tục sử dụng. H1 đưa cho T số tiền 200.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô BKS: 78- 330PX chở T đến nhà nghỉ H2. Cả hai thuê phòng số 101 để tiếp tục sử dụng ma túy. T chuẩn bị sẵn bộ D1 để sử dụng ma túy rồi gọi điện thoại cho T2 để mua ma túy với giá 200.000 đồng. T2 tiếp tục đổ ma túy vào đoạn ống hút nhựa mang đến phòng 101 bán cho T rồi mang tiền về phòng số 108 đưa cho D. Sau đó, T và H1 thay phiên nhau sử dụng số ma túy này. Đến khoảng 12h00' cùng ngày, T gọi điện thoại rủ Nguyễn
Chí T4 đến phòng số 101 để sử dụng ma túy. Khi T4 đến, T chỉ cho T4 biết vị trí để ma túy và T4 tự sử dụng ma túy rồi đi về nhà còn T và H1 tiếp tục sử dụng hết số ma túy vừa mua được.
Trong khoảng thời gian này, Huỳnh Ngọc P đến phòng số 108 để gặp T2 và D. Tại đây, D rủ P sử dụng ma túy thì P đồng ý cùng với D và T2 thay phiên nhau sử dụng ma túy. Sau đó, D trả tiền thuê phòng đi về trước. Riêng T2, P mang dụng cụ sử dụng ma túy (bên trong vẫn còn ma túy) đến phòng số 101 rồi cùng với T, H1 sử dụng hết số ma túy nói trên. Sau đó, H1 đi về nhà trước. Đến khoảng 20h00' ngày 22/10/2022, Công an thị trấn L kiểm tra nhà nghỉ H2 thì phát hiện sự việc.
- Tại Bản kết luận giám định số 407/GĐ-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng K, Công an tỉnh P kết luận: Chất bám dính trong thành 02 bình cầu thuỷ tinh tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, do lượng ít nên không xác định được khối lượng; Chất lỏng trong suốt trong chai nhựa trong suốt có thể tích 460ml, tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
- Tại Bản kết luận giám định số 1512/KL-KTHS ngày 28/7/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận: Với thể tích chất lỏng trong suốt thu giữ ban đầu là 460ml; Nồng độ Methamphetamine là 0,013mg/ml thì khối lượng của Methamphetamine trong mẫu chất lỏng trong suốt ký hiệu A2.2 thu giữ ban đầu là 5,98mg (0,00598g).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Lê Phụng T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc P 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo Phạm Hồng D, Trương Nguyễn Kim T2, Nguyễn Tống H1, Trương Thị Cẩm T3; phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/6/2024, bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo T, P vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 21 đến ngày 22/10/2022, tại nhà nghỉ H2 thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, Tại phòng số 108: Phạm Hồng D và Trương Nguyễn Kim T2 đã cung cấp ma túy, dụng cụ cùng sử dụng ma túy với Nguyễn Văn N 01 lần và cùng sử dụng với Huỳnh Ngọc P 01 lần. Tại phòng số 101: Lê Phụng T đã cung cấp ma túy, địa điểm cùng sử dụng với Nguyễn Tống H1 01 lần; T và H1 cung cấp ma túy, địa điểm cùng nhau sử dụng 01 lần và cho Nguyễn Chí T4 sử dụng ma túy 01 lần; T2 và P cung cấp ma túy, T và H1 cung cấp địa điểm cùng nhau sử dụng ma túy 01 lần nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 (đối với bị cáo T), điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS (đối với bị cáo P) là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác nên đối với loại tội phạm này cần được phát hiện, ngăn chặn và xử phạt nghiêm khắc. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng để xử phạt Lê Phụng T 07 năm 06 tháng tù; Huỳnh Ngọc P 07 năm tù là có phù hợp. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
1. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt: Bị cáo Lê Phụng T - 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc P - 07 (B2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê Phụng T, Huỳnh Ngọc P mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Phụng T và đp
