|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HSST.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Văn Chuyết.
- Bà: Đoàn Thị Dịu.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST - HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Vũ Văn T, sinh năm 1997 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1970; Con bà Vũ Thị L, sinh năm 1974; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Nam Định (có mặt).
- Phạm Văn T2, sinh năm 1997 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Phạm Văn T3, sinh năm 1966; Con bà Phạm Thị X, sinh năm 1966; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Nam Định (có mặt).
Người làm chứng: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1961 (vắng mặt); Ông Vũ Văn C, sinh năm 1966 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn T và Phạm Văn T2 đều mắc nghiện ma túy, loại ma tuý sử dụng là Heroine. Khoảng 12 giờ ngày 07/5/2024, T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Airblade, biển số 18H1-493.14 đến nhà T chơi. Sau đó, T rủ T2 cùng đi mua ma túy về sử dụng chung. Tiền đồng ý điều xe máy Airblade chở T đi sang xã N, huyện N, tỉnh Nam Định để mua ma túy. Khi đi qua thị trấn L, huyện N, T2 vào một cửa hàng bán thuốc tân dược ở ven đường mua 02 bơm kim tiêm nhựa, 01 ống Novacain để sử dụng Heroine bằng hình thức chích. Sau đó, T2 chở T đến ngã ba T, xã T, huyện T thì dừng xe bảo T xuống đứng đợi còn T2 cầm 600.000 đồng do T đưa để đi mua ma tuý. Tiền một mình điều khiển xe máy đi đến khu vực cánh đồng thuộc xóm C, xã N, huyện N gặp một người đàn ông không quen biết, dáng người gầy, mặc quần đùi áo phông tối màu, đeo khẩu trang, đứng một mình. Nghĩ người đàn ông này có bán ma túy, T2 đi đến hỏi và mua của người đàn ông này 02 gói Heroin, gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 600.000 đồng rồi điều khiển xe quay lại chỗ T đứng đợi. Tiền đưa 02 gói Heroine vừa mua được cho T cất giấu, rồi điều khiển xe máy chở T quay về tìm nơi sử dụng. Đến 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi T và T2 đang đi trên đường dong thuộc thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Tiện và T2 đều khai nhận đây là 02 gói H1 vừa mua để cùng nhau sử dụng, ký hiệu M1; 02 bơm kim tiêm nhựa và 01 ống Novacain đều chưa qua sử dụng; 01 xe máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu Airblade, biển số 18H1-493.14 là tài sản của Phạm Văn T2.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T và T2 không thu giữ đồ vật gì.
Tại bản kết luận giám định số: 875/GĐKTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là Heroine, khối lượng: 0,402gam.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn T và Phạm Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số: 51/CT-VKS-TN ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố các bị cáo Vũ Văn T và Phạm Văn T2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nhận xét trên, bị cáo ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T và Phạm Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS:
- Đề nghị xử phạt Vũ Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Đề nghị xử phạt Phạm Văn T2 mức án từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định; Tịch thu tiêu huỷ 02 bơm kim tiêm nhựa và 01 ống Novacain; Trả lại cho bị cáo T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 18H1-493.14.
- Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác trong hồ sơ đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 07/5/2024, Phạm Văn T2 và Vũ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,402 gam Heroin trong người, mục đích để cùng nhau sử dụng thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang tại đường D thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Hành vi tàng trữ 0,402 gam Heroine mục đích để sử dụng của các bị cáo Phạm Văn T2, Vũ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với bị cáo.
- Về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm. Bị cáo Vũ Văn T là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị tiền để mua ma tuý và trực tiếp cất giấu ma tuý, xếp vai trò chính. Bị cáo Phạm Văn T2 là người đi mua ma tuý, chuẩn bị công cụ để sử dụng ma tuý, xếp vai trò thứ hai.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy: Bị cáo Phạm Văn T2 và bị cáo Vũ Văn T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Nhà nước nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng do mắc nghiện các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Về hình phạt xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên cũng lên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì trong quá trình điều và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu, lượng ma túy tàng trữ để sử dụng không lớn, để các bị cáo sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng, vì vậy HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định; Tịch thu tiêu huỷ 02 bơm kim tiêm nhựa và 01 ống Novacain là công cụ các bị cáo mua để sử dụng Heroine; Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 18H1-493.14, đây là phương tiện bị cáo T2 sử dụng để đi làm hàng ngày.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho T2 vào ngày 07/5/2024 tại khu vực cánh đồng thuộc xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, CQCSĐT Công an huyện T đã xác minh nhưng không xác định được đối tượng để xử lý.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”:
- Xử phạt Vũ Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07 - 5 - 2024).
- Xử phạt Phạm Văn T2 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07 - 5 - 2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn T2.
- Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định và 02 bơm kim tiêm nhựa, 01 ống Novacain.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 18H1-493.14, số máy JF63E2199391, số khung RLHJF6324HZ165818.
(các vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 61/THA ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T với của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Các bị cáo Vũ Văn T và Phạm Văn T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bùi Văn Dũng |
Bản án số 61/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 61/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
