TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH HÀ NAM Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày: 21/08/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hiền và ông Nguyễn Đình Thật.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bảy – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/08/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/HS - ST ngày 15/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST - HS ngày 07/08/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1993 tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú trước khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Lương Thị N; có vợ là Phạm Thị Phương T và 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/06/2024, chuyển tạm giam từ ngày 23/06/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có ma túy đá để sử dụng nên khoảng 21 giờ ngày 14/6/2024, bị cáo Nguyễn Văn K đi bộ một mình từ nơi ở ra đường gặp và xin đi nhờ xe máy của một người thanh niên không quen biết đi đến thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam để tìm mua ma tuý. Khi đi đến gần khu vực ga B thuộc thị trấn B, huyện B; K xuống xe rồi đi bộ vào đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn B. Đi bộ được một đoạn thì K gặp và mua của một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở lề đường 02 gói ma túy gồm 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu đỏ không rõ hình dạng và 01 túi nilon màu trắng miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh bên trong túi chứa tinh thể màu trắng với giá 400.000 đồng. Mua được ma túy, K cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ ngược đường cũ để về.
Khoảng 22 giờ cùng ngày khi K đang đi bộ tại đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam thì bị Tổ công tác của Công an huyện B phối hợp cùng Công an thị trấn B yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, K đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu đỏ không rõ hình dạng và 01 túi nilon màu trắng miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh bên trong túi chứa tinh thể màu trắng mà K đang cầm trong lòng bàn tay trái. K khai nhận đó là ma túy loại ngựa và đá vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an tiến hành thu giữ vật chứng niêm phong trong phong bì ký hiệu QT và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn K.
Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K gồm: 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu đỏ không rõ hình dạng và 01 (túi nilon màu trắng miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh bên trong túi chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam, Cơ quan CSĐT Công an huyện B không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trưng cầu giám định ma túy đối với 01 viên nén màu đỏ không rõ hình dạng được gói ngoài bằng nilon màu trắng và tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT thu giữ của K. Tại Bản kết luận giám định số 440/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,100g (Không phẩy một trăm gam) loại: Methamphetamine.
Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,152g (Không phẩy một trăm năm mươi hai gam) loại: Methamphetamine”.
Tại Cáo trạng số 59/CT - VKS - MT ngày 15/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy cùng bao gói mẫu vật còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo K khai nhận hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện B và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
[2] Về tội danh: Hành vi tàng trữ trái phép 0,252 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng bị Lực lượng Công an bắt quả tang vào khoảng 22 giờ ngày 14/06/2024 tại đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Bố bị cáo là bệnh binh” được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
[4] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấy tới tình hình an ninh trật tự, gây bất bình trong nhân dân do vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định mức hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, xét bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
[8] Các tình tiết khác liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và đối tượng bán ma túy cho bị cáo K; các tài liệu có trong hồ sơ không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với người thanh niên cho Nguyễn Văn K đi nhờ xe mô tô ngày 14/6/2024; K khai không quen biết và K không để ý đặc điểm xe máy, biển kiểm soát xe mô tô của người này. Ngoài lời khai của K thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn hấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 14/06/2024).
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong có số 440/KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
Vật chứng được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/07/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Trần Anh Dũng (đã ký) |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo: Nguyễn Văn K, sinh năm 1993 tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú trước khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam
