Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án: 61/2024/HS-ST

Ngày: 20/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    • 1/ Bà Lê Thị Xuân Mai

    • 2/ Ông Nguyễn Kiên Hiển

  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng N2 - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Dương Thúy H, sinh năm 1977; tại S; HKTT: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh S; Nơi ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn S và bà An Thị C; có chồng Trần Quốc C1 và 04 con gồm Trần N2 L (sinh năm 1999), Trần Thị Hồng N (sinh năm 2003), Trần N2 N1 và Trần N2 Y (sinh năm 2016).

Tiền án:

  • - Ngày 04/10/2019, bị Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 98/HSST).

  • - Ngày 07/8/2020, bị Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 81/HSST);

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 22/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh V xử phạt 08 tháng 05 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản (Bản án số 38/HSST).

  • - Ngày 07/10/2009 bị Công an thị xã R xử phạt hành chính 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp” (theo Quyết định số 125/QĐ-XPHC).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1957

Địa chỉ: Tổ B, thôn T, xã N, huyện P, tỉnh B.

Có ông Dương Văn N2 là đại diện theo ủy quyền. Theo Giấy ủy quyền lập ngày 19/6/2024

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thúy H từng đi khám bệnh tại Bệnh viện Da Liễu vào khoảng tháng 10/20223 và quen biết với đối tượng tên X (chưa rõ lai lịch) là người chuyên đi trộm cắp (móc túi) tại các bệnh viện mà chủ yếu là tại bệnh viện Mắt số 280 Điện Biên Phủ, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3. X nói H nếu muốn đi móc túi thì đến Bệnh viện Mắt tìm X thì H đồng ý.

Ngày 02/12/2023, H đón xe khách đi từ S lên Thành phố Hồ Chí Minh tìm người quen nhưng không gặp nên đi lang thang. Đến ngày 07/12/2023, do không còn tiền để tiêu xài nên H đón xe ôm đi đến Bệnh viện Mắt tìm X để trộm cắp tài sản. Khi đến, H thấy X đang đi cùng người tên V đeo khẩu trang và đội nón trùm kín mặt. Lúc này, H nói muốn cùng X đi trộm cắp thì X đồng ý và nói H nếu thấy X móc túi thì đứng ra che chắn cản địa, còn nếu H móc túi thì X sẽ che chăn cản địa, khi trộm cắp được tài sản thì chuyền tài sản cho người kia để cất giấu. Sau đó, H, X và V cùng đi vào trong khu vực sảnh khám bệnh của Bệnh viện Mắt tìm người có tài sản để trộm cắp. Khi vào trong khu vực sảnh, H phát hiện thấy túi áo khoác bên phải của bà Đỗ Thị L nhô lên giống cọc tiền (bà L khai số tiền 10.000.000 đồng gồm 19 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng) nên H đến áp sát vào người bà L, X thấy vậy đến đứng trước mặt bà L để che tầm nhìn còn V cũng đến áp sát phía bên trái bà L. Sau đó, H dùng tay phải lấy ra dao lam ở trong túi xách đang đeo rồi rạch 01 đường vào túi áo khoác bên phải của bà L làm rách túi áo rồi H dùng tay phải móc trộm được cọc tiền và chuyển cho X. Sau khi chuyển cọc tiền cho X, H đi nhanh về phía trước định tẩu thoát thì nghe tiếng bà L tri hô nên H bỏ chạy và vứt dao lam ở bên ngoài sảnh khám bệnh của Bệnh viện Mắt, H chạy được 01 đoạn thì bị anh Dương Văn N2 là con trai của bà L đuổi kịp giữ lại. Lúc này, anh Văn Quốc Thanh là Cán bộ Công an phường Võ Thị Sáu, Quận 3 được phân công nhiệm vụ tuần tra bảo đảm an ninh trật tự tại Bệnh viện Mắt chứng kiến sự việc nên đã tiến hành bắt giữ H đưa về trụ sở Công an Phường Võ Thị Sáu, Quận 3 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng X và V bỏ đi đâu không rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Dương Thúy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. H khai cọc tiền đã móc túi được là 01 xấp tiền dày khoảng 0,5cm, chủ yếu là tờ mệnh giá 500.000 đồng và có khoảng từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng đã bị chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS-HS ngày 21/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Dương Thúy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

  • - Bị hại có ông Dương Văn N2 đại diện có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 10.000.000 đồng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 đến 04 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa; căn cứ lời khai của bị hại, nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

    Bị cáo Dương Thúy H là đối tượng có nhân thân xấu, đã có tiền án thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Cụ thể: ngày 07/12/2023 tại khu khám bệnh Bệnh viện Mắt số 280 Điện Biên Phủ, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3 bị cáo lại cùng với các đối tượng X và V lén lút rạch túi áo khoác của bà Đỗ Thị L lấy số tiền 10.000.000 đồng của bà L đang cất trong túi rồi giao cho X để tẩu thoát nhằm chiếm đoạt là bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  3. Hành vi mà bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

  4. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, đối tượng X, V là đồng phạm giữ vai trò giúp sức cho bị cáo trong việc thực hiện hành vi chiếm đoạt. Vì vậy, khi lượng hình cần căn cứ vào Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự để cân nhắc có hình phạt tương xứng với tính chất vai trò mà bị cáo đã gây ra trong vụ án.

  5. Tình tiết tăng nặng: Xét, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không coi đó là bài học cho bản thân mà ra tù lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật và lần phạm tội nay được coi là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng mức án thật nghiệm khắc mới có tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và cũng để làm gương cho người khác.

  6. Tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên cũng xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

  7. Các đối tượng X, V đã cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo nhưng do chưa xác định được lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh có căn cứ sẽ xử lý sau.

  8. Trách nhiệm dân sự: Xét, bị cáo chiếm đoạt của bị hại số tiền 10.000.000 đồng và đến nay chưa bồi thường và nay bị hại có yêu cầu được bồi thường nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền này là phù hợp.

  9. Vật chứng vụ án:

    • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đỏ đen, số IMEI 1: 35512*****48160, số IMEI 2: 35512*****48178 (đã qua sử dụng). Qua điều tra không liên quan đến vụ án nên cần giao trả cho bị cáo.

    • + Đối với 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Dương Thúy H là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần giao trả lại cho bị cáo.

    • + Đối với 01 (một) áo khoác nữ dài tay màu xám, bên trong có ghi chữ DH DREAM STAR; 01 (một) túi đeo chéo vai màu nâu, bên ngoài có ghi chữ LANDO (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo hiện đã cũ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

    • + Đối với 01 (một) áo khoác nữ dài tay sọc caro màu xanh đen, túi áo bên phải có 01 vết bị rạch, cắt dài khoảng 0.7cm, đã qua sử dụng tạm giữ của bà Đỗ Thị L hiện đã cũ không còn giá trị sử dung nên cần tịch thu tiêu hủy.

  10. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    - Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Thúy H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Dương Thúy H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 08/12/2023

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

  • + Giao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đỏ đen, số IMEI 1: 35512*****48160, số IMEI 2: 35512*****48178 (đã qua sử dụng).

  • + Giao trả cho bị cáo 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Dương Thúy H.

  • + Tịch thu tiêu hủy các tài sản sau:

    01 (một) áo khoác nữ dài tay màu xám, bên trong có ghi chữ DH DREAM STAR; 01 (một) túi đeo chéo vai màu nâu, bên ngoài có ghi chữ LANDO (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác nữ dài tay sọc caro màu xanh đen, túi áo bên phải có 01 vết bị rạch, cắt dài khoảng 0.7cm, đã qua sử dụng.

    (Tài sản giao trả, tich thu tiêu hủy được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKS-HS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3).

Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm thi hành số tiền bồi thường nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.

Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Áp dụng các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;

  • - VKSND TP. HCM;

  • - VKSND Quận 3;

  • - Công an TP. HCM;

  • - Trại giam Chí Hòa Công an TP. HCM;

  • - Công an Quận 3;

  • - Sở Tư pháp;

  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.3;

  • - Bị cáo;

  • - Đương sự;

  • - Lu VP, Hồ sơ (N2).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thúy H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger