|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HS-ST
Ngày 17 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ và ông Lê Tuấn Minh.
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1993; tại tỉnh Hà Nam; Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Phạm Thị O; vợ, con (chưa có); tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/11/2013 Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 08/03/2018 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 chuyển tạm giam đến nay; Có mặt.
* Người làm chứng: Anh Trần Hồng H, sinh năm 1971; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 28/12/2023, L điều khiển xe mô tô BKS 18S7 – 9467 đi từ nhà đến thành phố P mua ma túy để sử dụng. Khi L đi đến khu vực thuộc dốc B, phường T, thành phố P thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe mô tô màu đen không rõ biển kiểm soát. Trong lúc nói chuyện, L hỏi mua ma túy rồi lấy ra số tiền 30.000đ đưa cho người đàn ông, người này cầm tiền và bảo L đứng chờ. Khoảng 05 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho L 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi bỏ đi. Khi L kiểm tra bên trong vỏ bao thuốc lá thấy có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục, L biết là ma túy nên điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định. Thu giữ tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục niêm phong trong phong bì QT0; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 18S7-9467; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.
Tại bản kết luận giám định số 17/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,204 g (Không phẩy hai trăm linh bốn gam) loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-PL ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn L và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Lương phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; trả lại 01 căn cước công dân cho Nguyễn Văn L, nhưng giao cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ và trả lại bị cáo khi chấp hành xong án phạt tù.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Phủ Lý ra văn bản gửi cơ quan CSĐT Công an Thành phố Nam định tỉnh Nam Định tiếp nhận giải quyết vì liên quan đến vật chứng vụ án khác là đúng pháp luật.
Đối với BKS 18S7-9467 gắn trên xe mô tô YAMAHA thu giữ của Nguyễn Văn L; quá trình điều tra xác định là biển số của chủ sở hữu xe mô tô có biển kiểm soát này là Trần Văn H đã bán xe từ năm 2018 cho người mua phế liệu không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa và không có ý kiến gì trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và công bố lời khai là đúng quy định pháp luật.
[3] Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ buộc tội để kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 28/12/2023, tại khu vực dốc B, phường T, thành phố P, Nguyễn Văn L đang cất giữ trái phép khối lượng 0,204 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố P phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L và lời buộc tội tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu từng bị xét xử nhiều lần về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học, lại phạm tội về ma túy thể hiện sự coi thường pháp luật, khó cải tạo bản thân nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm và hành vi vi phạm pháp luật khác, gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ phạm tội để giáo dục, cải tạo chính bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng không có tài sản thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề khác của vụ án:
Nguồn gốc số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn L: L khai mua của một người thanh niên khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Phủ Lý đã tiền hành xác minh nhưng không xác định nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và nhân thân, lai lịch người đã giao ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khi của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý đối tượng đã nhận tiền và bán trái phép ma túy cho L trong vụ án này.
[7] Về vật chứng và tài sản đã thu giữ:
Đối với số ma túy loại Heroine được niêm phong trong phong bì số 17/KTHS là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy cùng toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 căn cước công dân là giấy tờ tùy thân hợp pháp cần trả lại cho bị cáo; Nhưng giao cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ và trả lại bị cáo khi châp hành xong án phạt tù theo quy định của Luật Căn cước công dân.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha thu giữ của Nguyễn Văn L; Quá trình điều tra xác định chiếc xe được đăng ký biển số 1858-0656 có chủ xe là Nguyễn Thị H-sinh năm 1980 ở xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Anh Nguyễn Văn T là chồng chị H chở chi H đi chơi tại nhà anh Nguyễn Văn H1 ở số nhà 574, đường Vi, xóm V, xã N, thành phố N thì bị mất trộm. Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Phủ Lý ra vân bản gửi cơ quan CSĐT Công an Thành phố Nam định tỉnh Nam Định tiếp nhận vật chứng là xe mô tô trên giải quyết theo quy định là đúng pháp luật.
Đối với BKS 18S7-9467 gắn trên xe mô tô YAMAHA thu giữ của Nguyễn Văn L; quá trình điều tra xác định là biển số của xe khác, chủ sở hữu xe có biển kiểm soát này là Trần Văn H đã bán xe cho người thu mua phế liệu từ năm 2018 không nhớ bán cho ai ở đâu, nên không còn giá trị sử dụng cân tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 28/12/2023).
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 17/KTHS. Mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; Vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, số lượng: 01 (một) cái.
- Trả lại Nguyễn Văn L 01 căn cước công dân; Nhưng giao cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ và trả lại bị cáo khi chấp hành xong án phạt tù theo quy định của Luật Căn cước công dân.
- Tịch thu tiêu hủy biển số 8S7-9467, số lượng: 1(một) cái.
- Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 05/4/2024.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Mai Oanh |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma túy
