Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 61/2024/HS - ST

Ngày: 15 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Thạch Thanh Long
  2. Ông Trương Văn Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quế Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Minh Lập – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/HSST, ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST – HS, ngày 15 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử bổ sung số: 328/2024/QĐXXST – HS, ngày 01 tháng 11 năm 2024, và quyết định hoãn phiên toà số: 233/2024/HSST-QĐ, ngày 01/11/2024 đối với bị cáo:

- Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980.

Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn lớp 9/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1949; chồng: Huỳnh Văn T1, sinh năm 1977; Con có 02 người (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án: Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/4/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng T là Luật sư: Nguyễn Vĩnh B1, Trung tâm tư vấn pháp luật, thuộc Hội Luật gia tỉnh T.

- Người Bị hại:

  1. bà Lê Thị S (Bé S), sinh năm 1952, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  2. bà Võ Thị C (Ú D), sinh năm 1972, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  3. bà Lý Thị Thùy D1, sinh năm 1985, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  4. bà Huỳnh Thị T2 (Tài B), sinh năm 1982, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  5. bà Nguyễn Thị Mỹ X (T, T19), sinh năm 1985, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  6. bà Lê Thị P (Sáu H), sinh năm 1961, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  7. bà Nguyễn Thị V (Dân Đ), sinh năm 1977, nơi thường trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  8. ông Phan Văn N (Chính N), sinh năm 1965, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  9. bà Võ Thị Thùy L (V), sinh năm 1978, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  10. bà Trần Thị H1 (2 D), sinh năm 1970, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  11. bà Nguyễn Thị Tám E (Năm L1), sinh năm 1971, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  12. bà Trịnh Thị Thanh P1 (7 T6), sinh năm 1977, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  13. bà Trần Thị T3 (T), sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  14. ông Nguyễn Văn L2 (Út L3), sinh năm 1970, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  15. bà Nguyễn Thị D2 (D2), sinh năm 1968, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  16. bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1981, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  17. bà Võ Thị H2, sinh năm 1988, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  18. bà Huỳnh Thị T5, sinh năm 1990, nơi thường trú ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
  19. bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1965, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  20. bà Huỳnh Thị L4, sinh năm 1980, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  21. bà Huỳnh Thị C1, sinh năm 1987, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  22. bà Sơn Thị Kim M, sinh năm 1967, nơi thường trú ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  23. bà Lê Văn V1, sinh năm 1952, nơi thường trú ấp N, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  24. bà Trần Thị R, sinh năm 1956, nơi thường trú ấp S, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  25. bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1981, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  26. bà Đào Thị H5, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  27. bà Nguyễn Thị Thúy H6, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  28. bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1974, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  29. bà Lý Thị A1, sinh năm 1992, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  30. bà Trần Thị Tuyết N1, sinh năm 1992, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  31. bà Huỳnh Thị N2, sinh năm 1959, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  32. bà Sơn Thị C2, sinh năm 1981, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  33. bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1969, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  34. bà Lý Thị H7, sinh năm 1966, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  35. bà Lê Thị L5, sinh năm 1972, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  36. ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1964, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  37. ông Lâm Thanh T7, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  38. bà Nguyễn Thị C3, sinh năm 1965, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  39. bà Nguyễn Thị H8, sinh năm 1943, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  40. bà Phạm Thị Bé B2, sinh năm 1973, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  41. bà Thạch Thị Sa C4, sinh năm 1957, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  42. bà Trần Thị Hồng T8, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  43. bà Thạch Sa M2, sinh năm 1952, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  44. bà Trần Thị L6, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  45. bà Nguyễn Thị H11, sinh năm 1957, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  46. ông Hà Văn T9, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  47. bà Đào Thị Thanh R1, sinh năm 1987, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  48. ông Sơn Thanh T10, sinh năm 1996, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  49. bà Nguyễn Thị Lệ T11, sinh năm 1971, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  50. bà Nguyễn Thị Bích P2, sinh năm 1971, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  51. bà Nguyễn Thị Lệ T12, sinh năm 1975, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  52. bà Trần Thị Bé T13, sinh năm 1978, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  53. ông Bùi Văn H9, sinh năm 1987, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  54. ông Nguyễn Thanh P3, sinh năm 1980, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  55. bà Võ Thị Bích T14, sinh năm 1989, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  56. bà Cao Thị T15, sinh năm 1991, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  57. bà Trần Thị Bé B3, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  58. bà Huỳnh Thị B4, sinh năm 1968, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  59. bà Nguyễn Thị P4, sinh năm 1980, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  60. ông Lê Quốc C5, sinh năm 1989, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  61. bà Nguyễn Thị M3, sinh năm 1978, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  62. ông Lê Văn L7, sinh năm 1974, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. bà Hồ Thị V2, sinh năm 1960, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  2. bà Kim Thị Sa P5, sinh năm 1943, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  3. bà Nguyễn Thị S2, sinh năm 1956, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  4. bà Thạch Thị S3, sinh năm 1965, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  5. ông Nguyễn Văn V3, sinh năm 1955, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  6. ông Lâm Thanh T7, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  7. ông Kim H10, sinh năm 1973, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  8. bà Thái Thị Tuyết M4, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  9. bà Nguyễn Thị Bé H11, sinh năm 1971, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  10. bà Kim Thị Kiều O, sinh năm 1982, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  11. bà Cam Thị Bích T17, sinh năm 1980, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  12. bà Thạch Thị P6, sinh năm 1957, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  13. ông Trần Văn T18, sinh năm 1986, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  14. ông Trương Minh H12, sinh năm 1981, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  15. bà Võ Thị L8, sinh năm 1979, nơi thường trú ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  16. bà Võ Thị Đ, sinh năm 1957, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  17. ông Huỳnh Văn T19, sinh năm 1984, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  18. bà Nguyễn Thị Cẩm H13, sinh năm 1978, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  19. bà Nguyễn Thị H8, sinh năm 1965, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  20. bà Châu Thị M5, sinh năm 1975, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  21. ông Đặng Hồng C6, sinh năm 1976, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  22. bà Nguyễn Thị T20, sinh năm 1969, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  23. bà Nguyễn Thị Ngọc N3, sinh năm 1966, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  24. bà Trần Thị Tuyết N1, sinh năm 1992, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  25. bà Nguyễn Thị P7, sinh năm 1986, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  26. bà Lê Thị Bé T21, sinh năm 1968, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  27. bà Nguyễn Thị O1, sinh năm 1978, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  28. bà Bùi Thị Ngọc T22, sinh năm 1994, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  29. bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  30. bà Nguyễn Thị P4, sinh năm 1977, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  31. bà Nguyễn Thị S4, sinh năm 1951, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  32. bà Hồ Thị Cẩm H14, sinh năm 1968, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  33. bà Hồ Thị Tuyết H15, sinh năm 1968, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  34. bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1988, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  35. bà Đào Thị H16, sinh năm 1961, nơi thường trú ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  36. bà Nguyễn Thị L9, sinh năm 1975, nơi thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  37. ông Lê Hoàng P8, sinh năm 1996, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  38. bà Đỗ Thị H17, sinh năm 1957, nơi thường trú ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
  39. bà Huỳnh Thị T23, sinh năm 1975, nơi thường trú ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
  40. ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981, nơi thường trú ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2007, bị cáo Nguyễn Thị Hồng T bắt đầu làm đầu thảo hụi (chủ hụi) để hưởng tiền hoa hồng, bị cáo mở nhiều dây hụi gồm nhiều loại hụi khác nhau, hụi viên tham gia chủ yếu có cư trú tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh và một số hụi viên ở địa phương khác. Giai đoạn đầu bị cáo tổ chức khui hụi, giao tiền hụi đầy đủ đúng hạn, hụi viên rất tin tưởng. Đến năm 2017, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của các hụi viên để có tiền tiêu xài cá nhân, đóng hụi ở các phần hụi. Bị cáo lấy tên của các hụi viên tham gia chơi trong dây hụi để hốt hụi, đồng thời khi mở dây hụi mới bị cáo kê tên khống vào dây hụi để hốt hụi, các hụi viên hoàn toàn không biết. Đến tháng 10 năm 2020, bị cáo tuyên bố úp hụi (ngừng tổ chức khui các dây hụi) do không còn khả năng thanh toán. Tại thời điểm ngừng hụi còn 21 dây hụi chưa kết thúc (chưa mãn hụi) được mở trong khoảng thời gian từ ngày 10/8/2014 đến 27/4/2020 Dương lịch.

Đối với 21 dây hụi chưa kết thúc (chưa mãn), Cơ quan điều tra đã chứng minh có 12 dây hụi bị cáo có hành vi gian dối lấy tên của hụi viên tham gia chơi hốt hụi, kê tên khống vào dây hụi hốt hụi chiếm đoạt tổng số tiền 199.730.000 đồng, cụ thể từng dây hụi như sau:

  1. Dây hụi vụ (01 năm khui 03 lần), số tiền 3.000.000 đồng, mở ngày 16/01/2017 âl (nhằm ngày 12/02/2017 dl), gồm 18 phần hụi, 14 người tham gia. Trong số 18 phần hụi bị cáo đã gian dối đưa khống 02 tên là T18 và T14 tham gia chơi 02 phần hụi. Dây hụi khui được 11 kỳ, bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 09 kỳ hốt thật, 02 kỳ hốt khống. Cụ Thể: Tại kỳ khui hụi thứ 01 bị cáo kêu số tiền 1.500.000 đồng, hốt phần hụi tên T18 nhận được số tiền 19.500.000 đồng và kỳ khui hụi thứ 11 bị cáo kêu số tiền 1.500.000 đồng, hốt phần hụi tên T14 nhận được số tiền 28.500.000 đồng, tổng số tiền bị cáo hốt 02 phần hụi là 48.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 02 phần hụi khống tổng số tiền 31.000.000 đồng (phần hụi tên T18 số tiền 21.000.000 đồng; phần hụi tên T14 số tiền 10.000.000 đồng). Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 17.000.000 đồng.
  2. Dây hụi vụ (03 tháng khui 01 lần), số tiền 3.000.000 đồng, mở ngày 20/5/2018 âl (nhằm ngày 03/7/2018 dl), gồm 19 phần hụi, 16 người tham gia. Trong số 19 phần hụi bị cáo đã gian dối đưa khống tên 8 Thông Tham gia 01 phần hụi. Dây hụi khui được 10 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm (08 kỳ hốt thật, 01 kỳ hốt khống, 01 kỳ tự ý hốt). Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 06, bị cáo kêu số tiền 1.300.000 đồng hốt phần hụi khống tên 8 T26 nhận được số tiền 31.100.000 đồng và tại kỳ khui hụi thứ 07 bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên Sáu H của bà Lê Thị P, sinh năm 1961, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (không được sự đồng ý của bà Lê Thị P) kêu số tiền 1.500.000 đồng nhận được số tiền 31.100.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 02 phần hụi khống tổng số tiền 21.200.000 đồng (phần hụi tên Sáu Q số tiền 4.500.000 đồng; phần hụi tên 8 Thông số tiền 16.700.000 đồng), ngoài 02 phần hụi trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho những người không đóng hụi tại kỳ khui hụi thứ 10 và bỏ địa phương (phần hụi tên L10 số tiền 12.000.000 đồng; phần hụi tên X1 số tiền 3.000.000 đồng; phần hụi tên V24, Tiến L11, P3, Lâm Nga T, L, Con Lu mỗi phần số tiền 500.000 đồng). Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 22.500.000 đồng.
  3. Dây hụi vụ (01 năm khui 03 lần), số tiền 3.000.000 đồng, mở ngày 01/02/2019 âl (nhằm ngày 06/3/2019 dl), gồm 19 phần hụi, 18 người tham gia. Trong số 19 phần hụi bị cáo đã gian dối đưa khống tên Út T25 tham gia chơi 01 phần hụi. Dây hụi khui được 05 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 04 kỳ hốt thật, 01 kỳ hốt khống. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 04, bị cáo kêu số tiền 1.600.000 đồng hốt phần hụi khống tên Út T25 nhận được số tiền 27.200.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho phần hụi khống số tiền 4.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt là 23.200.000 đồng.
  4. Dây hụi tháng (01 tháng khui 01 lần), số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 01/02/2019 âl (nhằm ngày 06/3/2019 dl), gồm 26 phần hụi, 20 người tham gia. Trong số 26 phần hụi bị cáo đã gian dối đưa khống tên chị Tám T26 tham gia chơi 01 phần hụi. Dây hụi khui được 20 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 19 kỳ hốt thật, 01 kỳ hốt khống. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 08, bị cáo kêu số tiền 300.000 đồng hốt phần hụi khống tên T21 T26 nhận được số tiền 17.200.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo đã choàng hụi cho phần hụi khống đến kỳ thứ 10 tổng số tiền 13.820.000 đồng. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền 3.380.000 đồng.
  5. Dây hụi tháng (01 tháng khui 01 lần) số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 06/5/2019 âl (nhằm ngày 08/6/2019 dl), gồm 25 phần hụi, 16 người tham gia. Trong số 25 phần hụi bị cáo đã gian dối đưa khống tên Loan D3 tham gia chơi 01 phần hụi. Dây hụi khui được 17 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 16 kỳ hốt thật, 01 kỳ hốt khống. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 14, bị can kêu số tiền 320.000 đồng, hốt phần hụi khống tên L8 D3 nhận được số tiền 16.440.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho phần hụi khống số tiền 9.880.000 đồng. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 6.560.000 đồng.
  6. Dây hụi tháng (01 tháng khui 01 lần) số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 03/7/2019 âl (nhằm ngày 03/8/2019 dl), gồm 25 phần hụi, 15 người tham gia. Dây hụi khui được 15 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 14 kỳ hốt thật, 01 kỳ tự ý hốt. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 04, bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên H5 của bà Đào Thị H5, sinh năm 1977, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (không được sự đồng ý của bà Đào Thị H5) kêu số tiền 350.000 đồng, nhận được số tiền 12.400.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho phần hụi tự ý hốt số tiền 3.740.000 đồng. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 8.660.000 đồng.
  7. Dây hụi tháng (01 tháng khui 01 lần), số tiền 2.000.000 đồng, mở ngày 09/9/2019 âl (nhằm ngày 07/10/2019 dl), gồm 23 phần hụi, 17 người tham gia. Dây hụi khui được 13 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 10 kỳ hốt thật, 03 phần tự ý hốt. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 04, bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên chị Ú của bà Sơn Thị Kim M, sinh năm 1967, nơi thường trú: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (không được sự đồng ý của bà Sơn Thị Kim M) kêu số tiền 610.000 đồng nhận được số tiền 28.240.000 đồng; tại kỳ khui hụi thứ 07 bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên T27 của bà Huỳnh Thị T5, sinh năm 1990, nơi thường trú: ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (không được sự đồng ý của bà Huỳnh Thị T5) kêu số tiền 700.000 đồng nhận được số tiền 27.500.000 đồng; tại kỳ khui hụi thứ 09 bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên T27 của bà Huỳnh Thị T5 (không được sự đồng ý của bà Huỳnh Thị T5) kêu số tiền 700.000 đồng nhận được số tiền 26.900.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 03 phần hụi tự ý hốt tổng số tiền 9.770.000 đồng (phần hụi tên Chị Ú số tiền 3.960.000 đồng; phần hụi tên T27 số tiền 5.810.000 đồng), ngoài 03 phần hụi trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 03 hụi viên bỏ địa phương không đóng hụi tổng số tiền 18.000.000 đồng (phần hụi tên X1 số tiền 6.000.000 đồng; phần hụi tên 5 T6 số tiền 12.000.000 đồng). Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 54.870.000 đồng.
  8. Dây hụi tháng (01 tháng khui hụi 01 lần), số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 15/10/2019 âl (nhằm ngày 11/11/2019 dl), gồm 30 phần hụi, 21 người tham gia. Dây hụi khui được 12 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 10 kỳ hốt thật, 02 kỳ tự ý hốt. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 08 bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên Thiết N4 của ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (không được sự đồng ý của ông Nguyễn Văn T4) kêu số tiền 400.000 đồng, nhận được số tiền 18.000.000 đồng và kỳ khui hụi thứ 10, bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên Tư T28 của bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1988, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (không được sự đồng ý của bà Nguyễn Thị Mỹ X) kêu số tiền 460.000 đồng, nhận được số tiền 16.800.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 02 phần hụi tự ý hốt tổng số tiền 2.500.000 đồng và những người không đóng hụi tại kỳ khui hụi thứ 12 (phần hụi tên Dì B, 6 Xẹt, Tư V4, L, Út S5 mỗi phần số tiền 400.000 đồng). Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 29.900.000 đồng.
  9. Dây hụi nữa tháng (15 ngày khui 01 lần), số tiền 500.000 đồng, mở ngày 27/4/2020 âl (nhằm ngày 18/6/2020 dl), gồm 40 phần hụi, 23 người tham gia. Trong số 40 phần hụi, bị cáo đã gian dối đưa khống 02 tên là Sáu H và Xuyên Tư tham gia chơi 02 phần hụi. Dây hụi khui được 09 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 08 kỳ hốt thật, 01 kỳ hốt khống. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 09, bị cáo kêu số tiền 300.000 đồng hốt phần hụi khống tên Sáu H nhận được số tiền 7.100.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 02 phần hụi khống tổng số tiền 4.330.000. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 2.770.000 đồng.
  10. Dây hụi tháng (01 tháng khui 01 lần), số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 09/02/2020 âl (nhằm ngày 02/3/2020 dl), gồm 28 phần hụi, 17 người tham gia. Trong số 28 phần hụi, bị cáo đã gian dối đưa khống 03 tên hụi viên là X, Thông Thắm, T tham gia chơi 03 phần hụi. Dây hụi khui được 08 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 07 phần hốt thật, 01 phần hốt khống. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 01, bị cáo kêu số tiền 400.000 đồng, hốt phần hụi khống tên X nhận được số tiền 13.200.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi cho 03 phần hụi khống là X, Thông T29, Tho H tổng số tiền 13.280.000 đồng và choàng hụi cho hụi viên tên D3 không đóng hụi sống tổng số tiền 2.150.000 đồng. Như vậy, bị cáo phải bù lỗ số tiền là 2.230.000 đồng
  11. Dây hụi tháng (01 tháng khui 01 lần), số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 30/12/2018 âl (nhằm ngày 04/02/2019 dl), gồm 25 phần hụi, 19 người tham gia. Dây hụi khui được 22 kỳ bị cáo tuyên bố ngừng hụi, gồm 21 kỳ hốt thật, 01 kỳ tự ý hốt. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 18, bị cáo tự ý hốt 01 phần hụi tên Tiến L11 của bà Trần Thị T3, sinh năm 1977, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (không được sự đồng ý của bà Trần Thị T3) kêu số tiền 300.000 đồng, nhận được số tiền 19.600.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo sử dụng số tiền chiếm choàng hụi cho phần hụi tự ý hốt số tiền 2.430.000 đồng và choàng hụi cho phần hụi tên Lạch của Thạch Chanh T30, sinh năm 1977, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh bỏ địa phương không tiếp tục đóng hụi, số tiền choàng hụi là 6.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 11.170.000 đồng.
  12. Dây hụi vụ (01 năm khui 03 lần), số tiền 3.000.000 đồng, mở ngày 01/02/2019 âl (nhằm ngày 06/3/2019 dl), gồm 19 phần hụi, 14 người tham gia. Trong số 19 phần hụi bị cáo đã gian dối đưa tên 03 khống là Xuyên T31, Út M6, T, Út T25 tham gia 04 phần hụi. Dây hụi khui được 05 kỳ thì tuyên bố ngừng hụi. Cụ thể: Tại kỳ khui hụi thứ 05, bị cáo kêu 1.500.000 đồng, hốt phần hụi khống tên Út M6 được số tiền 27.000.000 đồng. Bị cáo không sử dụng số tiền chiếm đoạt choàng hụi.

* Đối với các dây hụi chưa kết thúc (chưa mãn hụi), và đã kết thúc (mãn hụi) Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chứng minh bị cáo tổ chức hụi đầy đủ, hụi viên kêu hốt hụi là có thật toàn bộ, bị cáo không có chiếm đoạt tiền, xác định các dây hụi này là phát sinh giao dịch dân sự gồm: Dây hụi vụ số tiền 3.000.000 đồng, mở lần đầu vào ngày 19/4/2017 âl (nhằm ngày 14/5/2017 dl), gồm 19 phần hụi; dây hụi 03 tháng số tiền 3.000.000 đồng, mở ngày 15/7/2014 âl (nhằm ngày 10/8/2014 dl); hụi vụ số tiền 3.000.000 đồng mở ngày 29/4/2016 (nhằm ngày 04/6/2016 dl); hụi vụ số tiền 3.000.000 đồng mở ngày 29/7/2016 (nhằm ngày 31/8/2016 dl); hụi vụ số tiền 5.000.000 đồng mở tháng 02/2018 âl; hụi vụ số tiền 3.000.000 đồng mở tháng 7/2019 âl; hụi 03 tháng số tiền 3.000.000 đồng mở ngày 25/01/2020 âl (nhằm ngày 18/02/2020 dl); hụi tháng số tiền 2.000.000 đồng mở ngày 12/4/2020 âl (nhằm ngày 03/6/2020 dl); dây hụi tháng số tiền 1.000.000 đồng, mở ngày 20/8/2018 âl (nhằm ngày 01/10/2018 dl), gồm 26 phần.

Như vậy, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối kê tên khống hốt 09 phần hụi số tiền 83.530.000 đồng, tự ý hốt 08 phần hụi của hụi viên số tiền 116.200.000 đồng. Tổng số tiền là 199.730.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thị Hồng T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT - VKS- HS, ngày 29 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp đứng ra làm chủ hụi (đầu thảo) để hưởng huê hồng từ năm 2007. Do làm ăn thua lỗ, tiêu xài cá nhân và mất cân đối vào việc thanh toán tiền nợ hụi, nên bị cáo có hành vi dùng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tiền của các hụi viên bằng cách tự ý lấy tên của các hụi viên để hốt hụi và kê tên khống vào các dây hụi để hốt hụi. Đến tháng 10 năm 2020 bị cáo có mở 21 dây hụi, trong đó có 12 dây hụi bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 08 phần hụi với tổng số tiền 116.200.000 đồng. Bị cáo còn dùng thủ đoạn gian dối kê tên khống hốt 09 phần hụi với số tiền 83.530.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 199.730.000 đồng.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả đối chất, tranh tụng công khai tại phiên tòa, thể hiện bị cáo Nguyễn Thị Hồng T đã có hành vi gian dối bằng hình thức lợi dụng việc bị cáo làm đầu thảo hụi, các hụi viên khi tham gia chơi hụi tin tưởng bị cáo, không kiểm tra tổng số hụi viên tham gia trong dây hụi nên bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối là kê khống tên hụi viên và tự ý lấy tên của các hụi viên trong các dây hụi, hốt hụi nhằm mục đích đóng hụi thay (choàng hụi) cho các hụi viên không đóng các phần hụi khi đã hốt hụi trước đó, trả nợ cho các khoản vay mượn bên ngoài và tiêu xài cá nhân dẫn đến hậu quả thiệt hại đã xảy ra với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 199.730.000 đồng, đủ căn cứ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vị Kiểm sát viên quyết định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T có trách nhiệm bồi hoàn cho các bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt và số tiền hụi bị cáo tự nguyện trả lại cho các bị hại theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, V5 còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.

Lời bào chữa của Luật sư Nguyễn Vĩnh B1: Luật sư thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo T về tội danh và khung hình phạt, nhưng do bị cáo sống vùng sâu, trình độ học vấn thấp nên bị cáo làm chủ hụi quản lý không tốt nên dẫn đến hụi bị bể, sau khi bể hụi thì gia đình bị cáo cũng có thiện chí nộp tiền khắc phục hậu quả được 50.000.000 đồng, bị cáo không có tiền án, tiền sự, cha mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo thật thà khai báo và biết ăn năn hối cải, đồng ý bồi thường cho các bị hại, và được các bị hại: Nguyễn Thị P4, bà Nguyễn Thị Bé T32, bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T4, bà Thạch Thị M7, bà Nguyễn Thị Bé B5, bà Nguyễn Thị T20, bà Nguyễn Thị M3, bà Nguyễn Thị Đ2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về nuôi con còn nhỏ, và làm ăn trả nợ cho các bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này để cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất từ 2 năm đến 3 năm 6 tháng tù.

Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo Nguyễn Thị Hồng T; bị hại có mặt tại phiên toà có ý kiến tranh luận yêu cầu bị cáo T trả tiền hụi lại cho bị hại như đã yêu cầu.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và làm ăn trả tiền cho các bị hại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, các người bị hại, các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, có 09 bị hại có mặt: bà Võ Thị C, Nguyễn Thị Mỹ X, Nguyễn Thị V, Võ Thị Thùy L, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Thị D2, Nguyễn Văn T4, Huỳnh Thị N2, Lâm Thanh T7, có 47 bị hại vắng mặt có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, và có 06 người vắng mặt đã niêm yết lần thứ 2, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt 02 người là ông Nguyễn Văn T4 và bà Nguyễn Thị O1, còn lại 38 người liên quan vắng mặt. Quá trình điều tra đã làm rõ lời khai của những người này và việc vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án nên Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo; các bị hại có mặt tại phiên tòa yêu cầu tiếp tục xét xử vụ án. Căn cứ vào quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thống nhất với nội dung bản Cáo trạng số: 46/CT-VKS - HS ngày 29/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long đã nêu. Bị cáo thừa nhận do bị cáo bị mất cân đối trong việc thanh toán tiền nợ vay, nợ hụi, tiêu xài cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của các hụi viên bằng hình thức mở các dây hụi, do các hụi viên tin tưởng, thường hay không có mặt khui hụi nên bị cáo kê tên khống vào các dây hụi để hốt và tự ý lấy tên của các hụi viên tham gia thật để hốt hụi nhằm chiếm đoạt tài sản của các hụi viên. Đến tháng 10 năm 2020, bị cáo bị mất cân đối tiền bạc, không còn khả năng thanh toán cho các hụi viên nên bị cáo tuyên bố úp hụi( tức ngưng khui), số tiền bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt là 199.730.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị hại, và lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập được. Do vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long quyết định truy tố bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự, là phù hợp với qui định của pháp luật, đúng người, không oan, không sai.

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đến tài sản sẽ bị nghiêm trị. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhận thức được việc thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì muốn có tiền để trả các khoản nợ khác, choàng hụi và tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng việc mình làm đầu thảo hụi và các hụi viên tham gia chơi hụi tin tưởng bị cáo, các bị hại ít có mặt lúc khui hụi nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối kê tên khống trong 12 dây hụi và tự ý lấy tên của các hụi viên tham gia thật để hốt hụi nhằm chiếm đoạt tài sản của các hụi viên, trong khi các hụi viên này hoàn toàn không biết. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện trong một khoảng thời gian dài từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 10/2020. Hành vi phạm tội của bị cáo phạm tội hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, đã gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

[4] Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức lợi dụng việc tham gia góp hụi để chiếm đoạt tài sản xảy ra tại địa bàn huyện C liên tục gia tăng và mức độ phạm tội ngày càng tinh vi, số tiền chiếm đoạt ngày càng nhiều, việc bể hụi dễ gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh tại địa phương. Để góp phần ổn định tình hình đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử cần lên cho bị cáo một mức án thật nghiêm cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lần đầu phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tác động gia đình nộp khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại; các bị hại có người yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng như cha ruột Nguyễn Văn B được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ ruột Nguyễn Thị A được Chính phủ tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, và tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo qui định tại điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo đã thống nhất đối chiếu số tiền còn nợ và đồng ý trả lại toàn bộ cho các bị hại theo thứ tự sau:

  1. Trả cho bà Lê Thị S (Bé S) số tiền 15.700.000 đồng.
  2. Trả cho bà Võ Thị C (Ú D) số tiền 33.000.000 đồng.
  3. Trả cho bà Lý Thị Thúy D1 số tiền 16.645.000 đồng.
  4. Trả cho bà Huỳnh Thị T2 (Tài B6) số tiền 30.000.000 đồng.
  5. Trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ X (T), số tiền 21.500.000 đồng.
  6. Trả cho bà Lê Thị P (S) số tiền 95.040.000 đồng.
  7. Trả cho bà Nguyễn Thị V (Dân Đ3) số tiền 2.445.000 đồng.
  8. Trả cho bà Phan Văn N (Chính N) số tiền 14.320.000 đồng.
  9. Trả cho bà Võ Thị Thùy L (V) số tiền 23.805.000 đồng.
  10. Trả cho bà Trần Thị H1 (2 D3) số tiền 55.825.000 đồng.
  11. Trả cho bà Nguyễn Thị Tám E (N), số tiền 13.225.000 đồng.
  12. Trả cho bà Trịnh Thị Thanh P1 (7 T6) số tiền 17.910.000 đồng.
  13. Trả cho bà Trần Thị T3 (T), số tiền 88.870.000 đồng.
  14. Trả cho bà Nguyễn Văn L2 (Ú) số tiền 28.490.000 đồng.
  15. Trả cho bà Nguyễn Thị D2 (D2) số tiền 16.200.000 đồng.
  16. Trả cho bà Nguyễn Thị M3 số tiền 6.500.000 đồng.
  17. Trả cho bà Võ Thị H2, số tiền 2.645.000 đồng.
  18. Trả cho bà Huỳnh Thị T5 số tiền 35.820.000 đồng.
  19. Trả cho bà Nguyễn Thị H3 số tiền 15.685.000 đồng.
  20. Trả cho bà Huỳnh Thị L4 số tiền 10.200.000 đồng.
  21. Trả cho bà Huỳnh Thị C1 số tiền 17.910.000 đồng.
  22. Trả cho bà Sơn Thị Kim M số tiền 35.820.000 đồng.
  23. Trả cho ông Lê Văn V1 số tiền 18.330.000 đồng.
  24. Trả cho bà Trần Thị R số tiền 11.200.000 đồng.
  25. Trả cho bà Nguyễn Thị H4 số tiền 23.910.000 đồng.
  26. Trả cho bà Đào Thị H5 số tiền 14.190.000 đồng.
  27. Trả cho bà Nguyễn Thị Thúy H6 số tiền 30.410.000 đồng.
  28. Trả cho bà Nguyễn Thị S1 số tiền 7.650.000 đồng.
  29. Trả cho bà Lý Thị A1 (H18) số tiền 11.930.000 đồng.
  30. Trả cho bà Trần Thị Tuyết N1 số tiền 8.190.000 đồng.
  31. Trả cho bà Huỳnh Thị N2 số tiền 13.980.000 đồng.
  32. Trả cho bà Sơn Thị C2 số tiền 14.550.000 đồng.
  33. Trả cho bà Nguyễn Thị M1 số tiền 6.550.000 đồng.
  34. Trả cho bà Lý Thị H7 số tiền 13.050.000 đồng.
  35. Trả cho bà Lê Thị L5 số tiền 12.150.000 đồng.
  36. Trả cho ông Nguyễn Văn T6 số tiền 13.050.000 đồng.
  37. Trả cho ông Lâm Thanh T7 số tiền 6.550.000 đồng.
  38. Trả cho bà Nguyễn Thị C3 số tiền 6.550.000 đồng.
  39. Trả cho bà Nguyễn Thị H8 số tiền 29.640.000 đồng.
  40. Trả cho bà Huỳnh Thị B4 số tiền 13.800.000 đồng.
  41. Trả cho bà Thạch Thị Sa C4 số tiền 9.740.000 đồng.
  42. Trả cho bà Trần Thị Hồng T8 số tiền 11.790.000 đồng.
  43. Trả cho ông Lê Quốc C5 số tiền 6.500.000 đồng.
  44. Trả cho bà Trần Thị L6 số tiền 6.500.000 đồng.
  45. Trả cho bà Nguyễn Thị H11 số tiền 3.740.000 đồng.
  46. Trả cho ông Hà Văn T9 số tiền 3.740.000 đồng.
  47. Trả cho bà Nguyễn Thị P4 số tiền 6.500.000 đồng.
  48. Trả cho ông S1 Thanh Trung số tiền 19.400.000 đồng.
  49. Trả cho bà Nguyễn Thị Lệ T11 số tiền 5.600.000 đồng.
  50. Trả cho bà Nguyễn Thị Bích P2 số tiền 2.645.000 đồng.
  51. Trả cho bà Nguyễn Thị Lệ T12 số tiền 6.000.000 đồng.
  52. Trả cho bà Trần Thị Bé T13 số tiền 2.445.000 đồng.
  53. Trả cho ông Bùi Văn H9 số tiền 19.590.000 đồng.
  54. Trả cho ông Nguyễn Thanh P3 số tiền 13.800.000 đồng.
  55. Trả cho bà Võ Thị Bích T14 số tiền 13.800.000 đồng.
  56. Trả cho bà Cao Thị T15 số tiền 13.800.000 đồng.
  57. Trả cho bà Trần Thị B7 Ba số tiền 13.800.000 đồng.
  58. Trả cho ông Lê Văn L7 số tiền 6.550.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Tại phiên Toà các bị hại có mặt, và vắng mặt có đơn không yêu cầu bị cáo trả lại tiền hụi gồm:

  • 6.59- Ông Nguyễn Văn T4 không yêu cầu bị cáo T8 trả số tiền 39.130.000 đồng.
  • 6.60- bà Thạch Thị Mương, không yêu cầu bị cáo trả số tiền 7.480.000 đồng.
  • 6.61- bà Phạm Thị Bé B2 không yêu cầu bị cáo trả số tiền 6.000.000 đồng.
  • 6.62- bà Đào Thị Thanh R1 không yêu cầu bị cáo số tiền 3.740.000 đồng.

Riêng các dây hụi vụ loại 3.000.000 đồng, mở lần đầu vào ngày 19/4/2017 âl (nhằm ngày 14/5/2017 dl), gồm 19 phần hụi; dây hụi 03 tháng loại 3.000.000 đồng, mở ngày 15/7/2014 âl (nhằm ngày 10/8/2014 dl); hụi vụ loại 3.000.000 đồng mở ngày 29/4/2016 (nhằm ngày 04/6/2016 dl); hụi vụ loại 3.000.000 đồng mở ngày 29/7/2016 (nhằm ngày 31/8/2016 dl); hụi vụ loại 5.000.000 đồng mở tháng 02/2018 âl; hụi vụ loại 3.000.000 đồng mở tháng 7/2019 âl; hụi 03 tháng loại 3.000.000 đồng mở ngày 25/01/2020 âl (nhằm ngày 18/02/2020 dl); hụi tháng loại 2.000.000 đồng mở ngày 12/4/2020 âl (nhằm ngày 03/6/2020 dl); dây hụi tháng loại 1.000.000 đồng, mở ngày 20/8/2018 âl (nhằm ngày 01/10/2018 dl), gồm 26 phần, do bị cáo T8 không có kê khống tên để hốt hụi, và không có lừa đảo chiếm đoạt tiền, nên xem các dây hụi này là giao dịch dân sự, nếu các hụi viên tham gia chơi hụi như bà Hồ Thị V2, bà Kim Thị Sa P5, bà Nguyễn Thị S2, bà Thạch Thị S3, ông Nguyễn Văn V3, ông Lâm Thanh T7, ông Kim H10, bà Thái Thị Tuyết M4, bà Nguyễn Thị Bé H11, bà Kim Thị Kiều O, bà Cam Thị Bích T17, bà Đào Thị H16, bà Thạch Thị P6, ông Trần Văn T18, ông Trương Minh H12, bà Võ Thị L8, bà Võ Thị Đ, ông Huỳnh Văn T19, bà Nguyễn Thị Cẩm H13, bà Nguyễn Thị H8, bà Châu Thị M5, bà Đặng Hồng C6, bà Nguyễn Thị T20, bà Nguyễn Thị Ngọc N3, bà Trần Thị Tuyết N1, bà Nguyễn Thị P7, bà Lê Thị Bé T21, bà Nguyễn Thị O1, bà Bùi Thị Ngọc T22, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1, bà Nguyễn Thị P4, bà Nguyễn Thị S4, bà Hồ Thị Cẩm H14, bà Hồ Thị Tuyết H15, bà Nguyễn Thị Mỹ X, bà Đào Thị H16, bà Nguyễn Thị L9, ông Lê Hoàng P8, bà Đỗ Thị H17, bà Huỳnh Thị T23, có phát sinh tranh chấp tiền hụi với đầu thảo là bị cáo Nguyễn Thị Hồng T thì được quyền kiện thành vụ kiện dân sự khác, và ngược lại đầu thảo cũng được quyền kiện các hụi viên không đóng hụi chết thành một vụ kiện dân sự khác, nếu có yêu cầu.

[7] Đối với số tiền 50.000.000 đồng ông Nguyễn Văn T4 đã nộp tại Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long theo lai thu số 0002266, ngày 26 tháng 8 năm 2024. Hội đồng xét xử đề nghị cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án về trách nhiệm dân sự cho các bị hại, và tại phiên toà hôm nay ông T4 không yêu cầu bị cáo trả lại tiền cho ông, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[8] Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra có thu giữ vật chứng là: 03 quyển sổ hụi, và danh sách hụi viên của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T và của các bị hại giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra cùng các loại tài liệu, giấy tờ khác có liên quan trong giai đoạn Điều tra, xác minh là các tài liệu, chứng cứ trong việc thực hiền hành vi phạm tội của bị cáo, xử lý lưu vào hồ sơ vụ án.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Đối với ông Huỳnh Văn T1 là chồng của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T có biết việc bị cáo làm đầu thảo hụi, nhưng không biết việc bị cáo T dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của các hụi viên nên không có dấu hiệu phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Huỳnh Văn T1 là có cơ sở.

[11] Do đó ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • - Căn cứ Điều 268 và Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s, khoản 1, Khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 03(ba) năm, 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2024.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

  • - Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 13; Điều 357, và khoản 1 Điều 584; 585; 586; 588; 589 của Bộ luật Dân sự.
  • - Nghị định: 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 về họ, hụi, bui, phường.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T bồi thường cho các bị hại gồm:
  1. Trả cho bà Lê Thị S (Bé S) số tiền 15.700.000 đồng.
  2. Trả cho bà Võ Thị C (Ú D) số tiền 33.000.000 đồng.
  3. Trả cho bà Lý Thị Thúy D1 số tiền 16.645.000 đồng.
  4. Trả cho bà Huỳnh Thị T2 (Tài B6) số tiền 30.000.000 đồng.
  5. Trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ X (T), số tiền 21.500.000 đồng.
  6. Trả cho bà Lê Thị P (S) số tiền 95.040.000 đồng.
  7. Trả cho bà Nguyễn Thị V (Dân Đ3) số tiền 2.445.000 đồng.
  8. Trả cho bà Phan Văn N (Chính N) số tiền 14.320.000 đồng.
  9. Trả cho bà Võ Thị Thùy L (V) số tiền 23.805.000 đồng.
  10. Trả cho bà Trần Thị H1 (2 D3) số tiền 55.825.000 đồng.
  11. Trả cho bà Nguyễn Thị Tám E (N), số tiền 13.225.000 đồng.
  12. Trả cho bà Trịnh Thị Thanh P1 (7 T6) số tiền 17.910.000 đồng.
  13. Trả cho bà Trần Thị T3 (T), số tiền 88.870.000 đồng.
  14. Trả cho bà Nguyễn Văn L2 (Ú) số tiền 28.490.000 đồng.
  15. Trả cho bà Nguyễn Thị D2 (D2) số tiền 16.200.000 đồng.
  16. Trả cho bà Nguyễn Thị M3 số tiền 6.500.000 đồng.
  17. Trả cho bà Võ Thị H2, số tiền 2.645.000 đồng.
  18. Trả cho bà Huỳnh Thị T5 số tiền 35.820.000 đồng.
  19. Trả cho bà Nguyễn Thị H3 số tiền 15.685.000 đồng.
  20. Trả cho bà Huỳnh Thị L4 số tiền 10.200.000 đồng.
  21. Trả cho bà Huỳnh Thị C1 số tiền 17.910.000 đồng.
  22. Trả cho bà Sơn Thị Kim M số tiền 35.820.000 đồng.
  23. Trả cho ông Lê Văn V1 số tiền 18.330.000 đồng.
  24. Trả cho bà Trần Thị R số tiền 11.200.000 đồng.
  25. Trả cho bà Nguyễn Thị H4 số tiền 23.910.000 đồng.
  26. Trả cho bà Đào Thị H5 số tiền 14.190.000 đồng.
  27. Trả cho bà Nguyễn Thị Thúy H6 số tiền 30.410.000 đồng.
  28. Trả cho bà Nguyễn Thị S1 số tiền 7.650.000 đồng.
  29. Trả cho bà Lý Thị A1 (H18) số tiền 11.930.000 đồng.
  30. Trả cho bà Trần Thị Tuyết N1 số tiền 8.190.000 đồng.
  31. Trả cho bà Huỳnh Thị N2 số tiền 13.980.000 đồng.
  32. Trả cho bà Sơn Thị C2 số tiền 14.550.000 đồng.
  33. Trả cho bà Nguyễn Thị M1 số tiền 6.550.000 đồng.
  34. Trả cho bà Lý Thị H7 số tiền 13.050.000 đồng.
  35. Trả cho bà Lê Thị L5 số tiền 12.150.000 đồng.
  36. Trả cho ông Nguyễn Văn T6 số tiền 13.050.000 đồng.
  37. Trả cho ông Lâm Thanh T7 số tiền 6.550.000 đồng.
  38. Trả cho bà Nguyễn Thị C3 số tiền 6.550.000 đồng.
  39. Trả cho bà Nguyễn Thị H8 số tiền 29.640.000 đồng.
  40. Trả cho bà Huỳnh Thị B4 số tiền 13.800.000 đồng.
  41. Trả cho bà Thạch Thị Sa C4 số tiền 9.740.000 đồng.
  42. Trả cho bà Trần Thị Hồng T8 số tiền 11.790.000 đồng.
  43. Trả cho ông Lê Quốc C5 số tiền 6.500.000 đồng.
  44. Trả cho bà Trần Thị L6 số tiền 6.500.000 đồng.
  45. Trả cho bà Nguyễn Thị H11 số tiền 3.740.000 đồng.
  46. Trả cho ông Hà Văn T9 số tiền 3.740.000 đồng.
  47. Trả cho bà Nguyễn Thị P4 số tiền 6.500.000 đồng.
  48. Trả cho ông S1 Thanh Trung số tiền 19.400.000 đồng.
  49. Trả cho bà Nguyễn Thị Lệ T11 số tiền 5.600.000 đồng.
  50. Trả cho bà Nguyễn Thị Bích P2 số tiền 2.645.000 đồng.
  51. Trả cho bà Nguyễn Thị Lệ T12 số tiền 6.000.000 đồng.
  52. Trả cho bà Trần Thị Bé T13 số tiền 2.445.000 đồng.
  53. Trả cho ông Bùi Văn H9 số tiền 19.590.000 đồng.
  54. Trả cho ông Nguyễn Thanh P3 số tiền 13.800.000 đồng.
  55. Trả cho bà Võ Thị Bích T14 số tiền 13.800.000 đồng.
  56. Trả cho bà Cao Thị T15 số tiền 13.800.000 đồng.
  57. Trả cho bà Trần Thị B7 Ba số tiền 13.800.000 đồng.
  58. Trả cho ông Lê Văn L7 số tiền 6.550.000 đồng.

Đối với số tiền 50.000.000 đồng ông Nguyễn Văn T4 đã nộp tại Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long theo lai thu số 0002266, ngày 26 tháng 8 năm 2024. Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án về phần trách nhiệm dân sự cho các bị hại.

Giành cho các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Hồ Thị V2, bà Kim Thị Sa P5, bà Nguyễn Thị S2, bà Thạch Thị S3, ông Nguyễn Văn V3, ông Lâm Thanh T7, ông Kim H10, bà Thái Thị Tuyết M4, bà Nguyễn Thị Bé H11, bà Kim Thị Kiều O, bà Cam Thị Bích T17, bà Đào Thị H16, bà Thạch Thị P6, ông Trần Văn T18, ông Trương Minh H12, bà Võ Thị L8, bà Võ Thị Đ, ông Huỳnh Văn T19, bà Nguyễn Thị Cẩm H13, bà Nguyễn Thị H8, bà Châu Thị M5, bà Đặng Hồng C6, bà Nguyễn Thị T20, bà Nguyễn Thị Ngọc N3, bà Trần Thị Tuyết N1, bà Nguyễn Thị P7, bà Lê Thị Bé T21, bà Nguyễn Thị O1, bà Bùi Thị Ngọc T22, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1, bà Nguyễn Thị P4, bà Nguyễn Thị S4, bà Hồ Thị Cẩm H14, bà Hồ Thị Tuyết H15, bà Nguyễn Thị Mỹ X, bà Đào Thị H16, bà Nguyễn Thị L9, ông Lê Hoàng P8, bà Đỗ Thị H17, bà Huỳnh Thị T23, được quyền kiện bị cáo Nguyễn Thị Hồng T thành một vụ kiện dân sự khác về việc đòi nợ hụi trong 09 dây hụi bị cáo T không có lừa đảo, và bị cáo Nguyễn Thị Hồng T cũng được quyền kiện các hụi viên không đóng hụi chết cho bị cáo thành một vụ kiện dân sự khác trong 09 dây hụi: dây hụi vụ loại 3.000.000 đồng, mở lần đầu vào ngày 19/4/2017 âl (nhằm ngày 14/5/2017 dl), gồm 19 phần hụi; dây hụi 03 tháng loại 3.000.000 đồng, mở ngày 15/7/2014 âl (nhằm ngày 10/8/2014 dl); hụi vụ loại 3.000.000 đồng mở ngày 29/4/2016 (nhằm ngày 04/6/2016 dl); hụi vụ loại 3.000.000 đồng mở ngày 29/7/2016 (nhằm ngày 31/8/2016 dl); hụi vụ loại 5.000.000 đồng mở tháng 02/2018 âl; hụi vụ loại 3.000.000 đồng mở tháng 7/2019 âl; hụi 03 tháng loại 3.000.000 đồng mở ngày 25/01/2020 âl (nhằm ngày 18/02/2020 dl); hụi tháng loại 2.000.000 đồng mở ngày 12/4/2020 âl (nhằm ngày 03/6/2020 dl); dây hụi tháng loại 1.000.000 đồng, mở ngày 20/8/2018 âl (nhằm ngày 01/10/2018 dl), gồm 26 phần, nếu có yêu cầu.

3. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 (ba) quyển sổ hụi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T và các danh sách hụi viên và các tài liệu khác do các hụi viên giao nộp lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, và 42.575.250 đồng (Bốn mươi hai triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm năm chục đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và những người bị hại tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng các người bị hại, và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - CCTHADS huyện Càng Long;
  • - Công an huyện Càng Long;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS - ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 61/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger