Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 61/2024/HS-PT

Ngày 31 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Trần Văn San.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/HS-PT ngày 02 tháng 10 năm 2024. Do có kháng cáo của bị cáo Đào Văn S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo có kháng cáo: Đào Văn S, sinh năm 2001 tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; Đảng, đoàn: Không; con ông Đào Văn L và bà Triệu Thị Đ; vợ: Đào Thị U; con: Có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị: Đào Mạnh D, Trần Văn C. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Đào Văn D1, Trần Văn C, Đào Văn S có quen biết nhau. Khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023, D1 sử dụng điện thoại nhắn tin cho C với nội dung “Xem hôm nay có thiết kế ngồi được không?” (ý D1 bảo C xem có mua được ma túy đá để cùng nhau sử dụng không). C hiểu ý D1 nhắn tin nên trả lời: “Để tao gọi điện hỏi xem đã”. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày D1 gặp S tại nhà ăn của Công ty V có địa chỉ tại xã T, huyện B thì D1 bảo S gọi điện thoại cho C. Sáng hiểu ý của D1 bảo mình gọi điện thoại cho C để hỏi xem có mua được ma túy không nên Sáng trả lời “Vâng, để em gọi xem”. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, D1 nhắn tin cho C: “Có được không”. C trả lời: “Gọi được rồi, phải đi lấy. Chúng mày xem có tiền góp vào” (ý C bảo D1 và S cùng góp tiền vào để mua ma túy đá). C tiếp tục nhắn tin cho D1 bảo: “Bắn tiền hoặc đưa tiền đây”. D1 trả lời: “Ừ, để tao xoay được tao bắn cho”. Ngay sau đó D1 gặp S tại sân của Công ty V thì D1 chuyển khoản 100.000 đồng từ tài khoản có số [...] Ngân hàng V1 của D1 sang tài khoản có số [...] Ngân hàng M1 của Sáng đồng thời bảo S “Xem chuyển khoản tiền cho C đi”. Sáng gọi điện cho C thì C cho S biết số tài khoản 0009916751074 Ngân hàng V2 của C, đồng thời C hỏi vay Sáng 200.000đồng. Sáng đồng ý và chuyển cho C 300.000đồng. Sau khi chuyển tiền cho C được một lúc thì S gọi điện cho C với nội dung: “Bạn lấy được không?” (ý Sáng hỏi C xem có lấy được ma túy đá không). C trả lời: “Có nhưng mà thiếu tiền”. Sáng nói: “Thiếu bao nhiêu”. C trả lời: “Tổng cộng 200.000đồng. Tôi và D1 có 150.000đồng rồi”. Sáng trả lời “Bạn chạy đến cổng công ty của tôi để tôi đưa cho bạn 50.000 đồng”. Khoảng 17 giờ cùng ngày, C đi xe máy một mình đến cổng Công ty V để gặp và nhận từ Sáng 50.000đồng. Sau khi nhận được tiền của S thì C sử dụng điện thoại Realme lắp sim Mobifone số 0785546014 của C gọi điện thoại cho một người đàn ông với nội dung: “Anh bán cho em 200.000đồng tiền hàng” (ý C là mua của người đó 200.000đồng tiền ma túy đá). Người đó bảo C: “Để anh kêu thằng em của anh mang đến cho”. C trả lời: “Vâng. Có gì anh mang hàng đến ngã tư chợ lợn cho em”. Người đó nói: “Em anh đến ngã tư chợ lợn thì mày đưa tiền cho nó, rồi nó chỉ chỗ để hàng cho mày”.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C gọi cho D1 bảo: “Chạy ra phòng đi”. D1 hiểu ý S bảo ra phòng trọ của anh Nguyễn Xuân T tại nhà T thuộc thôn B, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; D1, S quen biết anh T do làm cùng công ty V. Khi tan làm, D1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18P4-9169 chở Sáng đến phòng trọ của anh T.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, C ra ngã tư chợ lợn chờ thì có một người thanh niên lại gần và hỏi: “Mày gọi cho ông anh tao à”. C liền trả lời: “Đúng rồi”. Sau đó, C lấy 200.000đồng đưa cho người thanh niên đó. Sau khi nhận tiền, người thanh niên đó chỉ vị trí để túi ma túy đá cho C và điều khiển xe mô tô đi. C đến vị trí người thanh niên đó chỉ thì thấy 01 (một) túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. C biết đó là túi ma túy đá nên không mở ra xem mà bỏ vào trong túi quần phía trước bên trái C đang mặc và điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của anh T.

Khi đến phòng trọ thì D1 lấy 01 coóng thủy tinh D1 mang đi từ nhà ra cắm vào 01 lỗ của nắp màu vàng gắn vào 01 chai nhựa, sau đó D1 lấy 01 ống hút màu tím cắm vào lỗ còn lại của nắp chai, D1 lấy nước trong nhà tắm cho vào chai và vặn nắp chai màu vàng vào chai nước đó rồi để trên giường. Khoảng 10 phút sau thì C đến phòng trọ gõ cửa thì Sáng ra mở cửa. C vào phòng và lấy túi ma túy đá để trên giường. D1 lấy 01 mảnh kéo bấm chuôi màu đỏ, đầu có lưỡi kim loại cắt túi ma túy đá làm đôi rồi D1 dùng 01 (một) đoạn ống hút màu trắng đầu được cắt vát nhọn để xúc một nửa túi ma túy đá cho vào coóng, một nửa túi ma túy đá còn lại thì D1 dùng bật lửa để hơ hàn miệng túi lại; Sau đó, D1 dùng bật lửa màu đỏ gắn đầu khò và bật hơ vào coóng có chứa ma túy đá bên trong để Sáng, C và D1 lần lượt sử dụng. Vào khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày khi C, D1, S sử dụng được 3 lượt thì bị Tổ công tác Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã A phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là ma túy và tài sản khác đã tiến hành giám định và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Kết quả xét nghiệm vi sinh nước tiểu của Trung tâm Y tế huyện B lập ngày 19/12/2023 xác định: Đào Mạnh D, Trần Văn C, Đào Văn S dương tính với ma túy (MET, MDMA).

Tại bản Kết luận giám định số 905/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: “- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý có khối lượng 0,053 gam loại Methamphetamine.

- 01 (một) chai nhựa màu trắng, 01 (một) ống nhựa màu tím sọc trắng, 01 (một) coong thuỷ tinh màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 4,5 cm; 01 lưỡi kéo kim loại trong hộp giấy ký hiệu QT02 gửi giám định có bám dính ma tuý loại Methamphetamine”

Quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

* Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đào Mạnh D, Trần Văn C và Đào Văn S.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự. Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.

1. Tuyên bố các bị cáo Đào Mạnh D, Trần Văn C và Đào Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Đào Văn S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 18/12/2023).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Đào Duy M, Trần Văn C và xử lý về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hời hạn luật định:

- Ngày 06/9/2024, bị cáo Đào Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Vì, bị cáo lần đầu phạm tội, hoàn thành nghĩa vụ, là lao động chính, con nhỏ.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Và thừa nhận do quen biết nhau từ trước, sáng 18/12/2023 Đào Văn S, Đào Văn D1, Trần Văn C rủ nhau góp tiền mua ma túy cùng sử dụng (D1 góp 100.000 đồng, C và Sáng mỗi người góp 50.000 đồng); sau khi Trần Văn C mua được ma túy, cả 03 cùng đến phòng trọ số B nhà T thuộc thôn B, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam để cùng nhau sử dụng, quá trình sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện B phối hợp với Công an xã A bắt quả tang.

- Đại diện Viện Kiểm sát có ý kiến như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Đào Văn S trong thời hạn luật định nên Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của cấp phúc thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam về hình phạt.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đào Văn S trong thời hạn luật định nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của cấp phúc thẩm.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo Đào Văn S phù hợp với nhau, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Sáng ngày 18/12/2023 bị cáo Đào Mạnh D khởi xướng việc mua ma túy để sử dụng với các bị cáo Trần Văn C và Đào Văn S thì được C và S đồng ý. Sau đó D góp 100.000 đồng, S và C mỗi người góp 50.000 đồng; D chuyển tiền cho S, S chuyển tiền cho C để C liên hệ mua ma túy. Sau khi C mua được 01 gói ma túy Methamphetamine với giá 200.000 đồng thì cả ba bị cáo hẹn nhau về phòng trọ số B nhà T thuộc thôn B, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam để cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, trong khi các bị cáo D, C, S đang sử dụng ma túy tại phòng trọ số B nhà T thì bị Lực lượng Công an huyện B bắt quả tang và thu giữ khối lượng ma túy Methamphetamine còn lại là 0,053 gam.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma tuý. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đào Văn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Trong vụ án này, Đào Văn S là người góp và chuyển tiền góp của D và S để C mua ma túy nên bị cáo S giữ vai trò thứ 2 trong vụ án.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo S đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Thời gian qua, tệ nạn sử dụng ma túy tổng hợp có chiều hướng gia tăng phức tạp, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đào Văn S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, không nặng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Văn S.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của Đào Văn S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam về hình phạt.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Văn S phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
  2. Xử phạt bị cáo Đào Văn S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 18/12/2023).

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Đào Văn S phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND huyện Bình Lục;
  • - VKSND huyện Bình Lục;
  • - Công an huyện Bình Lục;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Lục;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Trưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 61/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo rủ nhau góp tiền mua ma túy cùng sử dụng tại phòng trọ thỏa mãn cơn nghiện nên phạm tội.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger