|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-PT Ngày: 22/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Thực.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và ông Nguyễn Trung Kiên.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 22/11/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/HSPT ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Thị K, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Bị cáo không có kháng cáo:
Vũ Thị K – Sinh năm 1979, tại huyện T, tỉnh Hải Dương; Hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Vũ Trương H; Họ và tên mẹ: Ngô Thị Đ; Chồng: Vũ Văn T, sinh năm 1967 – đã ly thân; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại có kháng cáo:
Bà Trương Thị H1 sinh năm 1973, Địa chỉ: Số nhà C đường P, tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- Người làm chứng:
- + Ông Văn Đức T1 sinh năm 1966. Địa chỉ: Căn hộ S, CT2 chung cư L, tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- + Anh Luyện Văn T2 – Sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- + Anh Kiều Văn H2 – Sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- + Chị Dương Thị T3 – Sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- + Chị Đặng Thị T4 – Sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- + Anh Ngô Đức A – Sinh năm 2006. Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
(Có mặt.........vắng mặt..............)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Trương Thị H1 và ông Văn Đức T1 có mối quan hệ gia đình là chị dâu – em rể. Ông T1 và bà H1 chung nhau mở quán bán cafe, sinh tố tại nhà bà H1 để cùng nhau kinh doanh. Sau khi vợ ông T1 mất năm 2021 thì ông T1 có quan hệ yêu đương với Vũ Thị K. K biết rõ mối quan hệ gia đình giữa ông T1 và bà H1, K được ông T1 giao cho chìa khóa riêng để ra vào căn hộ 503A CT2 chung cư L.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/11/2023 khi ông T1 đang ở nhà một mình thì bà H1 đến căn hộ của ông T1. Khoảng 30 phút sau thì K đến và tự mở cửa căn hộ của ông T1 đi vào bên trong. K quan sát thấy tại phòng khách có mũ bảo hiểm, dép, điện thoại, áo chống nắng mà bà H1 hay sử dụng hàng ngày. Đồng thời lúc đó ông T1 mở cửa phòng ngủ đi ra không mặc quần áo trên người. Do nghi ngờ ông T1 quan hệ nam nữ bất chính với bà H1 nên K bảo ông T1 mở cửa phòng ngủ nhưng ông T1 không mở. K đến mở cửa phòng ngủ nhưng đã bị chốt bên trong. K liền gọi điện thoại cho 2 người bạn của ông T1 là anh Luyện Văn T2 và anh Kiều Văn H2 đến với mục đích chứng kiến việc ông T1 ngủ với gái ở phòng. K cầm chiếc điện thoại Samsung Galaxy của bà H1 đang để ở trên bàn uống nước tại phòng khách nhằm mục đích giữ lại để làm căn cứ. Khi anh T2 và anh H2 đến thấy ông T1 vẫn trong tình trạng không mặc gì trên người và ôm một số quần áo phụ nữ nhét xuống dưới đệm, còn K dùng búa phá cửa nhưng không được. Thấy vậy anh T2 và anh H2 can ngăn đẩy K ra hành lang chung cư. K đứng đợi một lúc sau đó đi xuống tầng 1 để cất xe ô tô. Khi K cất xe xong, quay lại thang máy để đi lên phòng ông T1 thì gặp bà H1 từ trong thang máy đi ra. K liền dùng tay phải túm cổ áo bà H1 lôi ra cửa sảnh tầng 1 của tòa chung cư CT2 xuống dưới vỉa hè, kéo ra đường H, tiếp tục kéo đến khu vực trước cửa nhà gần quán C đồng thời kéo khẩu trang và lột mũ bảo hiểm của chị H1 ra, tay phải K cầm điện thoại quay video còn tay trái cầm mũ bảo hiểm màu đỏ và túm tóc bà H1 và nói to “Xin lỗi đi, mày có tin tao lôi cái quần lót của mày trong phòng ngủ ra không hả, tao tưởng mày thế nào, tất cả nhìn nhé, chị dâu, vợ nó chết rồi, chị dâu ngủ với em rể, trong khi đó nó vẫn còn chồng, bà này là bà H1, H1 – T5, tất cả chứng kiến tao không đánh mày nhưng phải vả cảnh cáo mày”. Sau đó K cầm điện thoại Iphone 15 Promax vỏ bằng kim loại, kích thước (15,9x 7,7x0,8)cm bằng tay phải đánh vào mặt bà H1 làm chảy máu mồm, bà H1 ngồi xuống, K tiếp tục túm tóc lôi bà H1 ngược lại về phía tòa chung cư CT2 tiếp tục nói to “Tao cảnh cáo mày, bà này là bà H1 vợ thằng T5 nó mới cưới con xong nó lên ngủ với em rể đấy, chứng kiến đây, chảy máu mồm cũng được, trong khi tôi có ảnh tôi chụp đây buồi thằng chồng tôi vẫn cởi truồng đây tôi vẫn chụp nó cởi truồng đây”. Sau đó K buông tay ra thì bà H1 bỏ đi về. K vẫn đứng nói to với mọi người và dơ ảnh điện thoại cho mọi người xem. Sau khi sự việc xảy ra ngày 25/11/2023 bà H1 đã đến Bệnh viện Đ1 điều trị đến ngày 26/11/2023 thì ra viện với thương tích được xác định tổn thương nông ở đầu, tổn thương nông tác động nhiều vùng cơ thể. Ngày 29/11/2023 bà H1 có đơn trình báo, ngày 18/6/2024 có đơn yêu cầu khởi tố. Ngày 15/12/2023 K giao nộp điện thoại Iphone 15 Promax (niêm phong ký hiệu G3), ngày 05/02/2024 K giao nộp điện thoại S.
Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định vị trí bà H1 bị K túm áo kéo đi, thu thập hình ảnh camera tại hiện trường (niêm phong ký hiệu G4), hình ảnh video do bà H1 cung cấp (niêm phong ký hiệu G2), kiểm tra điện thoại của K thu giữ 02 video (niêm phong ký hiệu G1), đồng thời cho bà H1 và K giải trình hình ảnh video thể hiện: K túm cổ áo, lôi bà H1 ra ngoài đường, dùng điện thoại Iphone 15 Promax đánh vào mặt bà H1. Thời gian K túm cổ áo bà H1 đến khi sự việc kết thúc là 01 phút 15s, quãng đường 90,4 m.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của K xác định: K quay 2 video ghi lại nội dung K đánh bà H1 nhưng không thể hiện đăng tải video lên mạng xã hội.
Kết luận giám định số 28/2024/KLTTCT-TTPY$GĐYK ngày 12/3/2024 của Trung tâm giám định pháp y và giám định y khoa Sở y tế kết luận: Căn cứ thông tư 22/2029/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Thị H1 tại thời điểm giám định là 01% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng vật tầy cứng gây nên.
Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định các hình ảnh video. Kết luận giám định số 77/KL-KTHS (KTS) ngày 18/3/2024 của Phòng K1 công an tỉnh H kết luận: Mẫu niêm phong ký hiệu G1 (thu giữ điện thoại của K): Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định. Mẫu niêm phong ký hiệu G2 (do bà H1 tải trên mạng về giao nộp): Hình ảnh liên quan đến nội dung vụ việc được ghi lại từ màn hình trình chiếu nên không xác định được file video gửi giám định có bị cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh liên quan đến nội dung vụ việc hay không. Mẫu niêm phong ký hiệu G4 (do chị N là quản lý chung cư giao nộp): Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định.
Bà H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền đi viện là 84.822 đồng; thu nhập thực tế trong 01 tháng bà phải nghỉ không bán hàng được 45.000.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần là 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H1 yêu cầu bồi thường là 1.045.084.822 đồng. Ngày 25/7/2024 bị cáo giao nộp số tiền 10.000.000 đồng bồi thường cho bà H1, Cơ quan điều tra đang quản lý số tiền trên tại kho bạc nhà nước.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HSST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Thị K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
Bị cáo Vũ Thị K 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ là ngày UBND xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự: Điều 2, Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ – HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số qui định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Buộc bị cáo bồi thường cho bà Trương Thị H1 số tiền là 5.460.822 đồng (Năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn tám trăm hai mươi hai đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bà H1 số tiền 10.000.000đ đang gửi tại kho bạc nhà nước thị xã M. Trả lại cho bà H1 số tiền 10.000.000 đ đang được gửi tại kho bạc nhà nước thị xã M theo tài khoản của chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào số [...].
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 25/9/2024, bị hại là chị Trương Thị H3 kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo K và tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự với số tiền là 60.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị hại là chị Trương Thị H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị cáo Vũ Thị Khánh T6 khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Thị K về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Mức bồi thường trách nhiệm dân sự Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đã phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị hại không xuất trình được tài liệu gì mới. Do vậy, bị hại kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt và đề nghị bồi thường trách nhiệm dân sự 60.000.000 đồng . Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trương Thị H3, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của của bà Trương Thị H1 đảm bảo về hình thức, trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về tội danh:
Lời khai nhận của bị cáo Vũ Thị K tại Cơ quan điều tra và tại cấp sơ thẩm phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp vật chứng đã thu giữ, các tài liệu về thương tích, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Do ghen tuông nên khoảng 14 giờ 50 phút ngày 24/11/2023, tại khu chung cư L, tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vũ Thị K đã thực hiện hành vi dùng 01 chiếc điện thoại Iphone 15 Promax có vỏ bằng kim loại là vật tầy cứng đập vào vùng mặt của bà Trương Thị H1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định là 01%, căn cứ Nghị quyết 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 HĐTP TANDTC và tại tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ – HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC thì điện thoại có vỏ bằng kim loại là vật tầy cứng được hướng dẫn là hung khí nguy hiểm. Vì vậy, Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào đã xét xử bị cáo Vũ Thị K về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị hại Trương Thị H1 đề nghị tăng mức hình phạt và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Vũ Thị K thì thấy:
Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo K đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cấp sơ thẩm xử phạt Vũ Thị K 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội.
Xuất phát từ những căn cứ trên, việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Việc áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo là không cần thiết.
[4].Về yêu cầu bồi thường dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; Điều 2, 7 Nghị quyết 02/2022/NQ – HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số qui định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì mức bồi thường mà bị cáo phải chịu là 5.460.822 đồng. Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là nhiều hơn mức bị cáo phải chịu trách nhiệm theo luật định và được cấp sơ thẩm ghi nhận là có căn cứ.
Bị hại kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không được chấp nhận.
[5]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại.
[6]. Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa được chấp nhận.
[7]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị hại Trương Thị H1 Không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 343; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 36, Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự. Điều 2, Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ – HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số qui định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị H1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 77/2024/HSST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị K 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Vũ Thị K cho UBND xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
Gia đình bị cáo Vũ Thị K có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo K bồi thường cho bà H1 số tiền 10.000.000 đồng đang gửi tại kho bạc nhà nước thị xã M theo tài khoản số [...] của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào.
Bà Trương Thị H1 có quyền liên hệ với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào để nhận số tiền trên.
3. Về án phí:
Bà Trương Thị H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Hoàn trả bà Trương Thị H1 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0003454 ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Thực |
Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 61/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BTK
