|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-PT Ngày: 02-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Nhậm.
- Các Thẩm phán: Ông Lê Hùng Cường.
- Ông Trần Trọng Nhân.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trần Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh ngày 25-4-1990, tại Long An. Nơi cư trú và chỗ ở hiện tại: Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 21/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 65/2019/HS-ST, ngày 21/8/2019 (Bị cáo đã chấp hành xong ngày 14/10/2021).
Nhân thân:
- Ngày 16/11/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 51/2007/HS-ST, ngày 16/11/2007.
- Ngày 17/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 14/2009/HS-ST, ngày 17/3/2009. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 51/HSST, ngày 16/11/2007 thành hình phạt chung là 09 tháng tù.
- Ngày 15/4/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/2009/HS-ST, ngày 15/4/2009 (Chấp hành xong ngày 21/4/2010).
- Ngày 09/6/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 89/2011/HS-PT, ngày 09/6/2011 (Chấp hành xong ngày 20/9/2012).
- Ngày 29/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 22/2013/HS-ST, ngày 29/3/2013 (Chấp hành xong ngày 30/6/2015).
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 30/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người không kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
- Người bị hại: Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1960; Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Long An
- Người làm chứng: Ông Phùng Văn H, sinh năm: 1955; Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/12/2021, Nguyễn Hữu T đang ngồi uống nước với 02 người bạn không rõ lai lịch tại quán của anh Nguyễn Văn H1 tại Ấp A, xã P, huyện C thì T rủ 02 người bạn trên về nhà mình ở Ấp G, xã T, huyện C lấy tủ gỗ của ông Nguyễn Hoàng T1 là cha ruột của T đem đi bán lấy tiền tiêu xài. T nhờ anh H1 điện thoại cho ông Trần Văn T2 chạy xe ba gác thuê đến quán để cùng T và 02 người bạn đến nhà T lấy tủ.
Đến nơi, ông T2 ở bên ngoài, T và 02 người bạn vào nhà khiêng tủ vòng cung 03 cánh, loại gỗ đỏ, kích thước cao 2,45m, ngang 1,45m, dày 0,55m để lên xe ba gác cho ông T2 chở đi. Lúc này, có ông Phùng Văn H phát hiện ngăn cản nhưng không được nên ông H mới điện thoại nói cho ông T1 biết và ông T1 nhờ trình báo công an giùm. Sau đó, ông H tiếp tục dùng xe môtô chạy theo xe ba gác đến tiệm G thấy T kêu ông T2 dừng xe mang tủ vào bán nhưng lúc này có công an xã T đến mời T về làm việc, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Riêng 02 người bạn của T bỏ chạy chưa làm việc được.
Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTX ngày 08/02/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An, kết luận: 01 (một) tủ vòng cung 03 cánh, loại gỗ đỏ, kích thước (cao 2,45m, ngang 1,45m, dày 0,55m), mua vào năm 2004 có giá trị là 6.000.000 đồng.
Qua điều tra còn xác định được ngoài việc lấy trộm tủ gỗ của ông Nguyễn Hoàng T1 vào ngày 28/12/2021, thì trước đó T còn 01 lần trộm cắp tài sản của ông T1. Cụ thể: Khoảng 08 giờ ngày 27/12/2021, do cần tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định trộm bộ ván gỗ của ông T1 đem đi bán. T đi bộ ra chợ C kêu người chạy xe ba gác không rõ lai lịch đến nhà ông T1 ở Ấp G, xã T, huyện C chở bộ ván loại gỗ san đá, kích thước dài 02m, ngang 1,6m, dày 0,05m của ông T1 đem đi bán. Trên đường đi người chạy xe ba gác hỏi mua bộ ván trên thì T đồng ý bán với giá 3.500.000 đồng. Tiền có được T tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTX ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An, kết luận: 01 (một) bộ ván 04 tấm, loại gỗ san đá, có kích thước dài 2m, ngang 1,6m, dày 0,05m, mua năm 2007 có giá trị là 5.460.000 đồng.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện C tạm giữ: 01 tủ vòng cung 03 cánh, loại gỗ đỏ kích thước (cao 2,45m, ngang 1,45m, dày 0,55m). Ngày 18/02/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Hoàng T1. Riêng bộ ván thì không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng T1 đã nhận lại tài sản là tủ gỗ và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Riêng bộ ván thì ông T1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Bản án số 15/2024/HS0ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30/10/2023.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về việc tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án, về quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 21/3/2024, bị cáo Nguyễn Hữu T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xử, bị cáo xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo cho là tài sản trên là của ông T1 nhưng trước đó ông T1 giao cho bị cáo quản lý, trong thời gian quản lý tài sản này bị cáo mới thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung:
Về hình thức kháng cáo trong hạn luật định, những nội dung kháng cáo trong giới hạn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đề nghị xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/12/2021, tại nhà của ông Nguyễn Hoàng T1. Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện C, bị cáo Nguyễn Hữu T đã lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàng T1 01 tủ gỗ trị giá 6.000.000đ và vào ngày 27/12/2021 bị cáo cũng đã lén lút chiếm đoạt của ông T1 01 bộ ván gỗ trị giá 5.460.000đ, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 11.460.000đ.
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Hữu T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ngày 21/3/2024, bị cáo Nguyễn Hữu T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Qua nghiên cứu những chứng cứ có tại hồ sơ nhận thấy cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo không bổ sung tình tiết giảm nhẹ nào mới. Bị cáo phạm tội với 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân xấu, mức án 02 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, thể hiện tính giáo dục và nghiêm minh của pháp luật, nên kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai về hành vi chiếm đoạt tài sản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng và tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị cáo cho là tài sản trên ông T1 giao cho bị cáo quản lý trước khi bị cáo có hành vi chiếm đoạt. Qua xem xét hồ sơ vụ án lời khai bị cáo cho là tài sản trên bị cáo được ông T1 giao quản lý là không phù hợp bởi lẽ ông T1 là bị hại trong vụ án xác định tài sản trên ông T1 chưa cho hay giao cho ai quản lý. Tại biên bản phiên tòa sơ thẩm bị cáo cũng xác định căn nhà tại Ấp G, xã T, huyện C hiện có 3 người đang ở gồm ông T1, bị cáo và người vợ sau của ông T1 do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/12/2021, tại nhà của ông Nguyễn Hoàng T1, địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện C, bị cáo Nguyễn Hữu T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàng T1 01 tủ gỗ trị giá 6.000.000₫ và vào ngày 27/12/2021 bị cáo cũng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông T1 01 bộ ván gỗ trị giá 5.460.000đ, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 11.460.000₫ như án sơ thẩm đã xác định là có căn cứ. Án sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật, hiện bị cáo còn 01 tiền án chưa được xóa án tích đồng thời bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại 2 lần mỗi lần đều đủ căn cứ cấu thành tội trộm cắp tài sản, án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 với tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi xét xử án sơ thẩm đã xác định: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã được án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đã được án sơ thẩm xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xét xử bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào khác ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo khi xét xử nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T. Giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30/10/2023.
Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 02-7-2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Văn Nhậm |
Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu T- Trộm cắp TS
