Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-4-2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Tất Ái
  2. Bà Bùi Thị Thu Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm 1977 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: số A, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Nơi thường trú: số A, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Chỗ ở hiện nay: số A, tổ A, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Võ Văn H trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Ngọc L quen biết kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị L có quan hệ tình cảm với người khác nên tình cảm vợ chồng không còn nữa. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Năm 2021 chị L có nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng chị L không đến Tòa án đến dự phiên tòa nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn H yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc L.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Võ Đức T, sinh ngày 27/12/2001 và cháu Võ Đức K, sinh ngày 12/01/2006 hiện đã trưởng thành, lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho chị Nguyễn Thị Ngọc L nhưng chị L không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án tham gia phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Võ Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử. Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Anh Võ Văn H yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc L. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L cư trú tại số A, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Võ Văn H có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử. Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[1.4] Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tại phiên tòa: Vụ án không thuộc trường hợp quy định khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa sơ thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Võ Văn H và chị Nguyễn Thị Ngọc L quen biết, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 28/9/2001 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn anh Võ Văn H xác định từ năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị Nguyễn Thị Ngọc L có quan hệ tình cảm với người khác nên tình cảm vợ chồng không còn nữa. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Năm 2021 chị L có nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng chị L không đến Tòa án đến dự phiên tòa nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa đã triệu tập các bên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng phía bị đơn chị L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không đến Tòa để giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc trong cuộc sống vợ chồng, như vậy chứng tỏ bản thân bị đơn không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên không có thiện chí muốn hàn gắn lại quan hệ vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình yêu thương giữa hai vợ chồng, phải cùng quan tâm, chia sẻ và chăm sóc lẫn nhau, thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đã lâu nhưng cả hai không có hướng khắc phục, giải quyết, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Từ những phân tích trên cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn không hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số 18 ngày 31/01/2002, Giấy khai sinh số 98 ngày 27/4/2006 và lời trình bày của anh H, Hội đồng xét xử xác định anh H và chị P có 02 con chung tên Võ Đức T, sinh ngày 27/12/2001 và cháu Võ Đức K, sinh ngày 12/01/2006. Các con đều đã trưởng thành, lao động được, anh H và chị L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn anh Võ Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn H.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 91 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 28/9/2001 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

1.2 Về con chung: Cháu Võ Đức T, sinh ngày 27/12/2001 và cháu Võ Đức K, sinh ngày 12/01/2006 đều đã trưởng thành lao động được, anh H và chị L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Anh Võ Văn H và chị Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Anh Võ Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Anh H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005625 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Võ Văn H và chị Nguyễn Thị Ngọc L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP. Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho;
  • - UBND xã Mỹ Phong;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger