Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BUÔN HỒ

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 16-9-2024.

V/v: “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Y Dhiễu Hmok.
  2. Ông Nguyễn Văn Thức.

-Thư ký phiên Tòa: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phi Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 16/9/2024 tại phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/6/2024 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024, giữa:

Nguyên đơn: Chị H'M Mlô, sinh năm: 1996. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn B, xã E, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Y U Mlô, sinh năm 1993. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Địa chỉ: Buôn A, xã E, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị H’M là nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H'M và anh Y U về sống chung với nhau từ năm 2012, năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã E, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2016 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị H'M và anh Y U đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị H'M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y U.

Về con chung: Chị H'M và anh Y U có 01 con chung là Y R Mlô, sinh ngày 10/11/2012, từ khi sống ly thân chị H'M là người trực tiếp nuôi con. Nay chị H'M có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị H’M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị H'M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Y U là bị đơn: Cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh Y U và anh Y U cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H’M.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị H'M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Y U là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị H'M ly hôn với anh Y U, tiếp tục giao con chung cho chị H'M nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Pháp luật về tố tụng: Việc chị H’M Mlô khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Y U Mlô, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Y U cố tình lẩn tránh, không hợp tác, vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh Y U cư trú. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2]. Pháp luật về nội dung:

2.1, Về quan hệ hôn nhân: Chị H’M và anh Y U về sống chung với nhau từ năm 2012, năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã E, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 67/2014/KH ngày 17/6/2014. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị H'M và anh Y U đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị H'M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y U.

Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị H'M và anh Y U thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H'M và anh Y U ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị H'M yêu cầu ly hôn với anh Y U là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

2.2. Về con chung: Chị H'M và anh Y U có 01 con chung. Nhận thấy, sau khi sống ly thân chị H'M là người trực tiếp nuôi con, nay ly hôn chị H'M có nguyện vọng tiếp tục nuôi con, nên cần giao con chung là Y R Mlô, sinh ngày 10/11/2012 cho chị H'M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị H’M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.

2.4. Về tài sản và nợ chung: Chị H'M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H'M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H'M Mlô.

  1. Về hôn nhân: Cho chị H'M Mlô được ly hôn với anh Y U Mlô.
  2. Về con chung: Giao con chung Y R Mlô, sinh ngày 10/11/2012 cho chị H'M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị H'M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.

Anh Y U có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về tài sản và nợ chung: Chị H'M, không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập xem xét.
  2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Chị H'M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ theo biên lai số AA/2023/0001588 ngày 24/6/2024.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
  • - Viện KSND TX Buôn Hồ;
  • - Chi cục THADS TX Buôn Hồ;
  • - UBND xã Ea Drông, TX Buôn Hồ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Nguyễn Huy Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST. ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H’M và anh Y U về sống chung với nhau từ năm 2012, năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã E, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 67/2014/KH ngày 17/6/2014.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger