TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07 – 8 – 2024
V/v Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàng Thị Hồng Lam
- Ông Phạm Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê – Kiểm sát viên.
Ngày 07/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/01/2024 về việc “Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1971. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh 1971. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2023 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn P chung sống với nhau tự nguyện từ năm 2014, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã nhau do ông P thường xuyên ăn nhậu, tìm cách gây sự và dùng lời lẽ chửi bới xúc phạm bà, nhiều lần ông P còn sử dụng bạo lực với bà. Hiện vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau. Nay tình cảm của bà với ông P không còn, không thể hàn gắn, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà với ông P là vợ chồng.
Về con chung: Không có con chung
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Trần Thị T sống chung với nhau từ năm 2014 nhưng không đăng ký kết hôn do không hiểu biết pháp luật. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, thời gian sau xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau do không phù hợp về quan điểm sống. Nay bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ giữa bà T với ông là vợ chồng, ông đồng ý với yêu cầu của bà T vì tình cảm của ông với bà T cũng không còn.
Về con chung: Không có con chung
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 BLTTDS là có căn cứ.
Về nội dung: Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn P chung sống với nhau từ năm 2014, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc bà T với ông P sống chung với nhau không đăng ký kết hôn đã không tuân thủ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên không có giá trị về mặt pháp lý. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu không công nhận vợ chồng của nguyên đơn bà Trần Thị T. Về con chung: không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị T khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước yêu cầu không công nhận vợ chồng với ông Nguyễn Văn P trú tại thôn T, xã P, huyện N. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng” theo khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn P có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định của pháp luật.
[2] Nội dung khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn P chung sống với nhau từ năm 2014 đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh ngày 03/6/2024, UBND xã P, huyện N cho biết: “Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn giai đoạn từ năm 2014 đến 01/2024 giữa bà Trần Thị T, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1971 sống chung nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã P.”
Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn... “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.”.
Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”. Và tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Căn cứ theo quy định của pháp luật đã viện dẫn nói trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông P.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu không công nhận vợ chồng của bà T.
[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 15, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn P.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001073, ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà T đã nộp đủ án phí DSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/8/2024), bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Cường |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về yêu cầu tòa án không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận là vợ chồng
