Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng cung

ứng dịch vụ tưới tiêu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Thanh Hoàng;
  2. Ông Nguyễn Lâm Tới.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/TLST-DS ngày 27/5/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tưới tiêu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-DS ngày 27/8/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 173/2024/QÐST-DS ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1955; nơi cư trú: Tổ C ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và ý kiến trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê Văn Đ trình bày:

Trước đây nguyên đơn làm trạm bơm để phục vụ tưới tiêu nông nghiệp cho bà con nông dân ở khu vực xã A và bị đơn bà Trần Thị N có canh tác đất trong khu vực trạm bơm do nguyên đơn quản lý. Hai bên có thỏa thuận khi thu hoạch xong sẽ thanh toán tiền dịch vụ. Tuy nhiên bà N đã sử dụng dịch vụ bơm tưới tiêu nhưng không thanh toán phí dịch vụ, số tiền còn nợ là 4.800.000 đồng (24 công x 200.000 đồng/công).

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn trả cho số tiền bơm tưới tiêu còn nợ là 4.800.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 21/8/2024, bà Trần Thị N trình bày:

Tôi có canh tác 22 công đất nằm trong trạm bơm nước do ông Lê Văn Đ làm chủ đường nước. Hàng năm, tôi đều đóng tiền bơm nước đầy đủ, tuy nhiên vào vụ thu đông năm 2022 do lúa mất giá nên tôi chưa trả chi phí bơm nước cho ông Đ. Số tiền nợ chi phí bơm nước khoảng hơn 4.000.000 đồng, số tiền cụ thể tôi không rõ. Nếu ông Đ không đồng ý giảm bớt cho tôi thì tôi xin trả dần mỗi vụ 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, bắt đầu trả vào vụ thu đông năm 2024.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn xác định không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ nào khác, nguyên đơn đồng ý giảm cho bị đơn số tiền 800.000 đồng, xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền bơm tưới tiêu còn nợ là 4.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (gọi tắt là BLTTDS).

Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 73 BLTTDS.

+ Về giải quyết vụ án:

Nguyên đơn, bị đơn thống nhất có xác lập thỏa thuận sử dụng dịch vụ bơm nước tưới tiêu; thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức, xã hội nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên. Kết quả xác minh ngày 07/8/2024, ông Nguyễn Triệu P – Trưởng ấp T xác nhận bà N có canh tác lúa nằm trong khu vực trạm bơm nước của ông Lê Văn Đ. Đồng thời, tại biên bản lời khai bà N thừa nhận còn nợ chi phí bơm nước như nguyên đơn trình bày.

Từ đó, cho thấy bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận nghĩa vụ trả tiền quy định tại Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 4.000.000 đồng, giảm 800.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 513, 515, 516, 517, 518 và 519 Bộ luật dân sự năm 2015 xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 4.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền bơm tưới tiêu còn nợ, không yêu cầu tính lãi. Xét, đây là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (gọi tắt là BLTTDS); bị đơn cư trú tại ấp T, xã A, thị xã T nên Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 4.000.000 đồng, giảm 800.000 đồng cho bị đơn và không yêu cầu tính lãi. Xét, đây là sự tự nguyện và quyền tự định đoạt của nguyên đơn nên Toà án chỉ xem xét, giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 5 BLTTDS.

[3] Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS.

Về nội dung:

[4] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng quá trình giải quyết vụ án, bị đơn thừa nhận có thỏa thuận bơm nước tưới tiêu với nguyên đơn cho diện tích đất tọa lạc tại ấp T, xã A, thị xã T. Do đó, có căn cứ xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng dịch vụ bơm tưới tiêu. Bị đơn thừa nhận còn nợ tiền chi phí bơm nước của nguyên đơn.

Khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thoả thuận.

Căn cứ quy định pháp luật như viện dẫn nêu trên, thấy rằng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền như đã thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền bơm nước còn nợ 4.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là có căn cứ chấp nhận. Xét buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 4.000.000 đồng như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Xem xét đối với ý kiến của bị đơn về việc xin trả dần mỗi vụ 1.000.000 đồng, thấy rằng đề nghị này của bị đơn không được nguyên đơn đồng ý nên Tòa án không có căn cứ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về cách thức thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

[6] Về án phí, bị đơn có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 513, 518, 519 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn Đ;

Buộc bị đơn bà Trần Thị N có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Lê Văn Đ số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trần Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nguyên đơn ông Lê Văn Đ không phải chịu án phí.

[3] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án Dân sự thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tưới tiêu

  • Số bản án: 61/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tưới tiêu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng dịch vụ tưới tiêu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger