|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/DS-ST
Ngày: 09/10/2024
V/v: "Tranh chấp thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Quyến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
2. Bà Nguyễn Thị Dung.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hoà – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc: "Tranh chấp thừa kế tài sản"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 22/2024/QĐST-DS ngày 23/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn C; sinh năm: 1957 (có mặt).
Địa chỉ: thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Trương S; sinh năm 1950 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Trương Thị L; sinh năm 1954 (có mặt).
Địa chỉ: thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
-
Bà Trương Thị N; sinh năm: 1968.
Địa chỉ: khối E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà N: Ông Lê Đình T; sinh năm: 1980; địa chỉ: thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Theo văn bản uỷ quyền ngày 24/11/2023); (có mặt)
- Ông Lê Đình T; sinh năm: 1980 (có mặt).
-
Chị Lê Thị Mỹ L1; sinh năm: 1998.
Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
-
Bà Lê Thị Kim P; sinh năm: 1983.
Địa chỉ: tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai.
-
Bà Lê Thị L2; sinh năm: 1985.
Địa chỉ: D D, phường D, Tp., tỉnh Kon Tum.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà L2, P, bà L1: Ông Lê Đình T; sinh năm: 1980; địa chỉ: thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Theo các văn bản uỷ quyền lần lượt ngày 24, 30 tháng 11 năm 2023 và ngày 11/12/2023); (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 18/7/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Trương Văn C trình bày:
Cha mẹ ông là cụ Trương Trọng T1 (chết ngày 21/5/2015) và cụ Võ Thị T2 (chết ngày 20/12/2008) sinh hạ được 06 người con gồm:
- Ông Trương S; sinh năm: 1950; địa chỉ: thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định;
- Bà Trương Thị L; sinh năm 1954; địa chỉ: thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định;
- Trương Văn C; sinh năm 1957; địa chỉ: thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định;
- Bà Trương Thị T3 (chết ngày 24/7/2008) có chồng là ông Lê Đình T4; giữa bà T3 và ông T4 có 04 người con chung gồm: ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1;
- Ông Trương Văn T5 (chết lúc 04 tuổi);
- Bà Trương Thị N; sinh năm 1968; địa chỉ: khối E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Tài sản thừa kế cha mẹ ông chết để lại là ngôi nhà có diện tích xây dựng khoảng 50m² gắn liền với thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.120m² (trong đó có 200m² đất ở và 920m² đất vườn). Ngoài ngôi nhà gắn liền với thửa đất nêu trên, cha mẹ ông còn để lại tài sản là quyền sử dụng đất sản xuất gồm: Thửa đất số hiệu 635, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m² (đất trồng lúa) và thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02, diện tích 360m² (đất trồng lúa). Toàn bộ tài sản nêu trên tọa lạc tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996; số vào sổ cấp GCN: 0007/QSDĐ... E6; ngày 30/8/1996.
Trước khi qua đời, ngày 03/12/2012 cụ T1 lập tờ di chúc bằng văn bản viết tay với nội dung để lại toàn bộ khối tài sản nêu trên cho anh chị em trong gia đình còn sống gồm ông S, bà L, bà N và ông (Trương Văn C). Tuy nhiên, thời điểm cha của ông lập tờ di chúc thì mẹ ông (cụ T2) đã chết. Mặt khác, nội dung tờ di chúc này không rõ ràng và chưa được cơ quan có thẩm quyền công chứng hoặc chứng thực. Bản gốc tờ di chúc này hiện nay ông Trương S đang lưu giữ. Sau khi cha mẹ ông qua đời, toàn bộ khối tài sản nêu trên do ông Trương S quản lý, sử dụng. Mặc dù anh em trong gia đình đã nhiều lần tổ chức họp nội bộ gia đình để thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế, nhưng ông S không đồng ý chia mà mong muốn trọn quyền thừa hưởng.
Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phù Cát xem xét, giải quyết chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 để lại. Do tờ di chúc ghi ngày 03/12/2012 của cụ T1 để lại có nội dung không rõ ràng nên ông yêu cầu Toà án chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.120m² (trong đó có 200m² đất ở và 920m² đất vườn) tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Ngôi nhà của cha mẹ ông xây dựng trên thửa đất này hiện nay đã mục nát, không còn giá trị sử dụng nên ông không yêu cầu chia. Ông xin nhận suất thừa kế bằng hiện vật, không nhận bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Riêng các thửa đất trồng lúa số hiệu 635, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m² và thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02, diện tích 360m² tại thôn G, xã C, huyện P hiện nay ông S đang quản lý, sử dụng thì ông không yêu cầu chia thừa kế mà tự nguyện giao cho ông S trọn quyền thừa hưởng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/3/2024, bị đơn ông Trương S trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, những người thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1, cụ T2; thời điểm mở thừa kế và tài sản thừa kế của vợ chồng cụ T1, cụ T2 chết để lại. Trước khi qua đời, mẹ ông (cụ T2) không để lại di chúc. Ngày 21/5/2015 cụ T1 chết. Trước khi chết, cụ T1 để lại tờ di chúc viết tay lập ngày 29/5/2009 với nội dung vợ chồng cụ T1 để lại mảnh vườn cho 04 người con còn sống được thừa kế gồm ông, bà L, ông C và bà N. Tờ di chúc này ông đã cung cấp cho Toà án. Sau khi cha mẹ ông qua đời, tài sản thừa kế của cha mẹ ông để lại do ông quản lý, sử dụng. Sở dĩ ông không đồng ý chia thừa kế tài sản của cha mẹ ông là bởi trước khi khởi kiện đến Toà án, ông C cho rằng ông Võ Thành C1 đã lấn chiếm đất của vợ chồng cụ T1, nhưng vì ông đã thông đồng với ông C1 để nhận tiền nên không ủng hộ việc ông C khiếu nại ông C1 lấn chiếm đất.
Nay ông C khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 để lại theo pháp luật thì ông đồng ý chia cho 04 người con của cụ T1, cụ T2 hiện còn sống với điều kiện ông C phải xin lỗi ông về việc ông C đã vu khống ông nhận tiền của ông C1 để bỏ qua việc ông C1 lấn chiếm đất như ông đã trình bày. Ông S từ chối đến Toà án tham gia tố tụng.
* Tại bản tự khai ngày 10 tháng 11 năm 2023 và các lời khai tiếp theo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị L trình bày:
Bà là con ruột của vợ chồng cụ T1, cụ T2. Bà thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông C về quan hệ huyết thống, những người thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất của vợ chồng cụ T1, cụ T2; thời điểm mở thừa kế và tài sản thừa kế của vợ chồng cụ T1, cụ T2 chết để lại. Trước khi qua đời, cụ T1 có để lại tờ di chúc viết tay như ông C trình bày trên là đúng. Tuy nhiên, do nội dung tờ di chúc này không rõ ràng và không có công chứng, chứng thực nên bà thống nhất theo yêu cầu của ông C, chia thừa kế tài sản của cha mẹ bà để lại là thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.120m² (trong đó có 200m² đất ở và 920m² đất vườn) tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định theo pháp luật. Bà xin nhận thừa kế tài sản bằng hiện vật. Ngôi nhà của cha mẹ bà xây dựng trên thửa đất này đã mục nát, sụp đổ, không còn giá trị sử dụng nên bà không yêu cầu chia.
Riêng các thửa đất trồng lúa số hiệu 635, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m² và thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02, diện tích 360m² tại thôn G, xã C, huyện P hiện nay ông S đang quản lý, sử dụng thì bà cũng như ông C, không yêu cầu chia thừa kế mà tự nguyện giao cho ông S trọn quyền thừa hưởng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình T và là người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án gồm bà Trương Thị N, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 trình bày:
Mẹ của ông là bà Trương Thị T3; chết ngày 24/7/2008 - là con ruột của vợ chồng cụ T1, cụ T2. Bà T3 có 04 người con gồm ông, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1.
Với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của bà N, bà L2, bà P và bà L1 ông T thống nhất toàn bộ lời trình bày và cách giải quyết vụ án của nguyên đơn ông Trương Văn C. Ông và những người em ruột của ông gồm L2, bà P và L1 yêu cầu Toà án chia thừa kế tài sản của ông bà ngoại để lại theo pháp luật. Ông và những người em ruột của ông xin nhận giá trị suất thừa kế mà anh em của ông được hưởng.
Đối với yêu cầu của bà N: bà N yêu cầu Toà án chia thừa kế theo pháp luật. Suất thừa kế mà bà N được hưởng thì bà N yêu cầu được nhận bằng hiện vật, không đồng ý nhận bằng tiền.
Riêng 02 thửa đất trồng lúa của vợ chồng cụ T1, cụ T2 để lại thì ông, bà N và các em ruột của ông không yêu cầu chia thừa kế mà tự nguyện giao cho ông S được trọn quyền thừa thưởng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Trương Sự cố Ý lẩn tránh không đến Toà án tham gia tố tụng thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định 02 tờ di chúc do cụ T1 lập ngày 29/5/2009 và ngày 03/12/2012 là vô hiệu toàn bộ nên chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 theo pháp luật.
Cách chia: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX chia thừa kế quyền sử dụng đất của vợ chồng cụ T1, cụ T2 cho ông C, ông S, bà L, bà N bằng hiện vật; buộc ông C, ông S, bà L và bà N cùng phải có nghĩa vụ hoàn lại giá trị suất thừa kế đã nhận chênh lệch thừa cho ông T, bà P, bà L2 và bà L1 được nhận suất thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị đơn ông Trương S nhiều lần được Toà án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà, nhưng ông S thể hiện thái độ không hợp tác với Toà án, từ chối nhận giấy triệu tập, các văn bản tố tụng khác của Toà án và từ chối đến Toà án tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Căn cứ các Điều 207, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án tiến hành xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Bị đơn ông Trương S phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.
[2] Xét nội dung tranh chấp, HĐXX thấy rằng: Nguyên đơn ông Trương Văn C khởi kiện bị đơn ông Trương S yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ Trương Trọng T1 (chết ngày 21/5/2015), cụ Võ Thị T2 (chết ngày 20/12/2008). Tài sản thừa kế vợ chồng cụ T1, cụ T2 chết để lại là ngôi nhà gắn liền với thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.120m² (trong đó có 200m² đất ở và 920m² đất vườn) tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, kèm theo đơn khởi kiện, ông C cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ: Bản sao giấy chứng tử của vợ chồng cụ T1, cụ T2 và bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ gia đình cụ Trương Trọng T1 vào ngày 30/8/1996; số vào sổ cấp GCN: 0007/QSDĐ/E6. Bị đơn ông Trương S chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 để lại, nhưng ông S chỉ đồng ý chia cho những người con còn sống của vợ chồng cụ T1, cụ T2 gồm ông, ông C, bà L và bà N với điều kiện: ông C phải xin lỗi ông về việc vu khống ông nhận tiền của ông Võ Thành C1 để bỏ qua việc ông C1 lấn chiếm thửa đất số 1007 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.120m² của vợ chồng cụ T1, cụ T2 để lại. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn C. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đối chiếu với tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Toà án thu thập được có tại hồ sơ vụ án, HĐXX thấy rằng:
[2.1] Theo văn bản phúc đáp số 897/UBND-TNMT ngày 25/4/2024 của UBND huyện P, tỉnh Bình Định và văn bản phúc đáp số 38/UBND-ĐC ngày 03/4/2024 của UBND xã C, huyện P thì hộ gia đình cụ Trương Trọng T1 được Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Quyết định số 4034/QĐ-UB ngày 27/11/1993 của UBND tỉnh B về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Tại thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất, hộ gia đình cụ T1 được cân đối cho 02 nhân khẩu gồm: cụ Trương Trọng T1 và cụ Võ Thị T2. Ngày 30/8/1996 hộ gia đình cụ T1 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; số vào sổ cấp GCN: 0007/QSDĐ/E6 gồm các thửa đất:
- Thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.120m² (trong đó có 200m² đất ở và 920m² đất vườn) gắn liền với ngôi nhà do vợ chồng cụ T1 xây dựng toạ lạc thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định;
- Các thửa đất trồng lúa số hiệu 635, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m², thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02, diện tích 360m² tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Như vậy, quyền sử dụng các thửa đất nêu trên và tài sản gắn liền với đất được xác định là tài sản chung hợp nhất và là di sản thừa kế của vợ chồng cụ T1, cụ T2 để lại.
Ngày 20/12/2008 cụ Võ Thị T2 chết không để lại di chúc. Ngày 21/5/2015 cụ Trương Trọng T1 chết. Trước khi qua đời, cụ T1 lập 02 tờ di chúc bằng giấy viết tay ghi ngày 29/5/2009 và ngày 03/12/2012. Nội dung của 02 tờ di chúc này đều thể hiện, sau khi chết vợ chồng cụ để lại mảnh đất vườn cho 04 người con gồm ông S, bà L, ông C và bà N mỗi người được chia 07m chiều ngang. Cả 02 tờ di chúc không nêu rõ di sản thừa kế để lại là loại tài sản gì và nơi có di sản. Xét nội dung và hình thức của 02 tờ di chúc nêu trên không tuân thủ theo quy định tại Điều 628, khoản 1 Điều 630, Điều 631 và Điều 633 của BLDS. Mặt khác, thời điểm cụ T1 lập di chúc cụ T2 đã chết nên cụ T1 không có quyền định đoạt toàn bộ khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Vì vậy, 02 tờ di chúc của cụ T1 để lại ghi ngày 29/5/2009 và ngày 03/12/2012 đều bị vô hiệu toàn bộ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà, các đương sự trong vụ án cũng không có ai yêu cầu chia thừa kế theo di chúc mà thống nhất chia thừa kế theo pháp luật nên HĐXX xét ghi nhận ý chí của các bên.
[2.2] Theo đơn yêu cầu của người khởi kiện, ngày 27/6/2024 Toà án tiến hành thuê đơn vị tư vấn đo đạc và thành lập Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ, Hội đồng định giá tài sản để tiến hành xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá tài sản thừa kế các bên đang tranh chấp. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ, hiện nay trên thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01 có một ngôi nhà cấp 4 do vợ chồng cụ T1, cụ T2 xây dựng năm 1988 với diện tích xây dựng 47,3m². Ngôi nhà này đã mục nát, sập đổ mái, không còn giá trị sử dụng. Ngoài ra trên thửa đất còn có một số cây ăn trái như 01 cây xoài, 03 cây dừa, một số cây chuối và một số cây keo lai do ông S, ông C và bà L trồng, nhưng các đương sự không yêu cầu định giá mà cam kết tự chặt bỏ khi chia thừa kế quyền sử dụng đất.
[2.2.1] Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện P cấp cho hộ gia đình cụ T1 năm 1996 thì thửa đất nêu trên có tổng diện tích là 1.120m² (trong đó có 200m² đất ở và 920m² đất vườn). Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế thì thửa đất này có tổng diện tích là 1.103,2m² (chênh lệch thiếu 16,8m²).
[2.2.2] Theo biên bản định giá ngày 27/6/2024, giá đất ở tại vị trí đang tranh chấp theo giá thị trường là 3.000.000 đồng/m² x 200m² = 600.000.000 đồng; giá đất vườn là 1.200.000 đồng/m² x 903,2m² = 1.083.840.000 đồng. Tổng giá trị của thửa đất là: 1.683.840.000 đồng.
[2.3] Chia tài sản chung hợp nhất của vợ chồng cụ T1, cụ T2 mỗi người được nhận là 841.920.000 đồng (1.683.840.000 đồng : 2).
[2.4] Chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 như sau:
[2.4.1] Ngày 20/12/2008 cụ Võ Thị T2 chết không để lại di chúc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, khoản 1 Điều 651, Điều 652 của Bộ luật Dân sự, tại thời điểm mở thừa kế, những người thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất của cụ T2 gồm: cụ Trương Trọng T1, ông Trương S, bà Trương Thị L, ông Trương Văn C và bà Trương Thị N. Riêng bà Trương Thị T3 là con ruột của cụ T2, nhưng bà T3 chết trước cụ T2 (bà T3 chết ngày 24/7/2008) nên các con của bà T3 gồm: ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 được quyền thừa kế thế vị suất thừa kế của bà T3 được hưởng nếu còn sống. Như vậy, chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của cụ T2 cho cụ T1, ông S, ông C, bà L, bà N mỗi người được nhận 140.320.000 đồng (841.920.000 đồng : 6); ông T, bà P, bà L2, bà L1 thừa kế thế vị, mỗi người được nhận 35.080.000 đồng (140.320.000 đồng : 4).
[2.4.2] Ngày 21/5/2015 cụ Trương Trọng T1 chết. Tại thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 gồm: ông S, bà L, ông C, bà N. Riêng bà T3 là con ruột của vợ chồng cụ T1 nhưng bà T3 chết trước cụ T1 nên các con của bà T3 gồm: ông T, bà P, bà L2 và bà L1 được thừa kế thế vị. Chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của cụ T1 cho ông S, bà L, ông C và bà N mỗi người được nhận 196.448.000 đồng ([841.920.000 đồng + 140.320.000 đồng] : 5); ông T, bà P, bà L2 và bà L1 mỗi người được nhận: 49.112.000 đồng (196.448.000 đồng : 4).
[2.5] Như vậy, chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 theo pháp luật, những người thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất như ông S, bà L, ông C và bà N mỗi người nhận tổng cộng là 336.768.000 đồng (140.320.000 đồng + 196.448.000 đồng). Ông T, bà P, bà L2 và bà L1 mỗi người được nhận tổng cộng suất thừa kế thế vị là: 84.192.000 đồng (35.080.000 đồng + 49.112.000 đồng).
[2.6] Ngoài tài sản thừa kế đã chia cụ thể nêu trên, vợ chồng cụ T1, cụ T2 còn để lại khối di sản là 02 thửa đất trồng lúa số hiệu 635, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m² và thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02, diện tích 360m² tại thôn G, xã C, huyện P. Tuy nhiên, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất không tranh chấp, tự nguyện giao 02 thửa đất này cho ông Trương S được trọn quyền thừa hưởng. Đây là quyền tự định đoạt của các đương sự trong vụ án, không trái với đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
[2.7] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông C, ông S, bà L và bà N đều yêu cầu được nhận suất thừa kế bằng hiện vật; những người thừa kế thế vị như ông T, bà P, bà L2 và bà L1 yêu cầu nhận suất thừa kế bằng giá trị. Do vậy, HĐXX xét chia giao cho ông C, ông S, bà L và bà N mỗi người được nhận 275,8m² đất thuộc thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 19, tờ bản đồ 57 – Vlap), trong đó có 50m² đất ở và 225,8m² đất vườn; tương ứng với giá trị 420.960.000 đồng là phù hợp với Quyết định số 36/2024/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND tỉnh B quy định về điều kiện, diện tích tối thiểu để tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Định. Ông S, ông C, bà L, bà N mỗi người được nhận bằng hiện vật có giá trị chênh lệch thừa là 84.192.000 đồng nên buộc những người này phải có nghĩa vụ hoàn lại giá trị chênh lệch thừa cho những người thừa kế thế vị gồm ông T, bà P, bà L2 và bà L1.
[3] Từ những nhận định trên, HĐXX xét chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 19, tờ bản đồ 57 – Vlap) có tổng diện tích theo đo đạc thực tế là 1.103,2m², trong đó có 200m² đất ở và 903,2m² đất vườn toạ lạc thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định cho ông C, ông S, bà L, bà N mỗi người được nhận 275,8m² (trong đó có 50m² đất ở và 225,8m² đất vườn; tương ứng với giá trị 420.960.000 đồng). Buộc ông S, bà L, ông C, bà N mỗi người phải hoàn lại giá trị chênh lệch suất thừa kế được hưởng cho ông T, bà P, bà L2 và bà L1 mỗi người được nhận 84.192.000 đồng.
[4] Về án phí DSST và các chi phí tố tụng khác:
[4.1] Án phí DSST: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV; Điều 2 Luật Người cao tuổi – 2009, ông Trương Văn C, ông Trương S và bà Trương Thị L đều là những người cao tuổi, được xét miễn án phí nếu đương sự có đơn yêu cầu. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông C và bà L có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí và án phí nên HĐXX xét miễn toàn bộ án phí DSST cho ông C, bà L. Riêng ông Sự cố Ý lẩn tránh, thể hiện thái độ không hợp tác với Toà án và không có đơn yêu cầu miễn án phí nên HĐXX xét buộc ông S phải chịu 5% án phí DSST đối với giá trị suất thừa kế được chia.
Bà Trương Thị N, ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải chịu 5% án phí DSST tương ứng với giá trị suất thừa kế được chia theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV.
[4.2] Các chi phí tố tụng khác: Theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Trương Văn C, ông Trương S, bà Trương Thị L, bà Trương Thị N, ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tương ứng phần giá trị tài sản được chia.
[5] Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX nên Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 186, các Điều 207, 227, 228, 264, 266, 267, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 219, 609, 611, 612, 613, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự - 2015.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV; Điều 2 Luật Người cao tuổi – 2009.
Tuyên xử:
- Xác định thửa đất số hiệu 1007 tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 19, tờ bản đồ 57 – Vlap) có tổng diện tích đo đạc thực tế 1.103,2m² (trong đó có 200m² đất ở và 903,2m² đất vườn) và các thửa đất trồng lúa số hiệu 635 tờ bản đồ số 01-1995 diện tích 840m²; thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02 - 1995, diện tích 360m² toạ lạc thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định hiện do ông Trương S đang quản lý, sử dụng là tài sản thừa kế của vợ chồng cụ Trương Trọng T1, cụ Võ Thị T2.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn C về việc phân chia thừa kế tài sản của vợ chồng cụ Trương Trọng T1 (chết: 21/5/2015), cụ Võ Thị T2 (chết: 20/12/2008).
-
Chia thừa kế quyền sử dụng đất của vợ chồng cụ Trương Trọng T1, Võ Thị T2 theo pháp luật như sau:
-
Chia, giao cho ông Trương Văn C, ông Trương S, bà Trương Thị L và bà Trương Thị N mỗi người được trọn quyền quản lý, sử dụng diện tích 275,8m² thuộc thửa đất số hiệu 1007, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 19 tờ bản đồ 57-Vlap (trong đó có 50m² đất ở và 225,8m² đất vườn, tương ứng với giá trị 420.960.000 đồng) tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Vị trí, giới cận chia cho từng người như sau:
- Giao cho ông Trương S phần đất ký hiệu D. Tứ cận: phía Đông giáp mương nước bê tông (phía Đông của mương nước là nhà và đất của hộ gia đình ông Võ Thành C1), phía Tây giáp phần đất ký hiệu C, phía Bắc giáp tỉnh lộ ĐT 633, phía Nam giáp thửa đất số 18, tờ bản đồ 57-Vlap;
- Giao cho ông Trương Văn C phần đất ký hiệu C. Tứ cận: phía Đông giáp phần đất ký hiệu D đã giao cho ông Trương S, phía Tây giáp phần đất ký hiệu B, phía Bắc giáp tỉnh lộ ĐT 633, phía Nam giáp thửa đất số 18, tờ bản đồ 57-Vlap;
- Giao cho bà Trương Thị N phần đất ký hiệu B. Tứ cận: phía Đông giáp phần đất ký hiệu C đã giao ông Trương Văn C, phía Tây giáp phần đất ký hiệu A, phía Bắc giáp tỉnh lộ ĐT 633, phía Nam giáp thửa đất số 18, tờ bản đồ 57-Vlap;
- Giao cho bà Trương Thị L phần đất ký hiệu A. Tứ cận: phía Đông giáp phần đất ký hiệu B đã giao cho bà Trương Thị N, phía Tây giáp đường đi nội bộ, phía Bắc giáp tỉnh lộ ĐT 633, phía Nam giáp thửa đất số 18, tờ bản đồ 57-Vlap.
(Có bản đồ trích đo địa chính khu đất do Công ty cổ phần T6 thực hiện đo vẽ ngày 27/6/2024 kèm theo).
- Chia, giao cho ông Trương S được trọn quyền quản lý, sử dụng các thửa đất trồng lúa số hiệu 635 tờ bản đồ số 01 – 1995, diện tích 840m²; thửa đất số hiệu số 1029, tờ bản đồ số 02 - 1995, diện tích 360m² tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Chia, giao cho ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 mỗi người được nhận suất thừa kế thế vị có giá trị 84.192.000 đồng do ông C, ông S, bà L, bà N mỗi người có nghĩa vụ giao lại phần giá trị quyền sử dụng đất đã nhận chênh lệch thừa.
- Buộc ông Trương Văn C, ông Trương S, bà Trương Thị L, bà Trương Thị N mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 mỗi người được nhận 84.192.000 đồng.
-
Chia, giao cho ông Trương Văn C, ông Trương S, bà Trương Thị L và bà Trương Thị N mỗi người được trọn quyền quản lý, sử dụng diện tích 275,8m² thuộc thửa đất số hiệu 1007, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 19 tờ bản đồ 57-Vlap (trong đó có 50m² đất ở và 225,8m² đất vườn, tương ứng với giá trị 420.960.000 đồng) tại thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Vị trí, giới cận chia cho từng người như sau:
-
Quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự:
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành chưa đầy đủ số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự (10%/năm) tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
-
Án phí DSST và các chi phí tố tụng khác:
-
Án phí DSST:
- Miễn toàn bộ án phí DSST cho ông Trương Văn C và bà Trương Thị L.
- Buộc ông Trương S, bà Trương Thị N mỗi người phải chịu 16.838.400 đồng án phí DSST (336.768.000 đồng x 5%); ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải chịu 4.209.600 đồng (84.192.000 đồng x 5%) án phí DSST.
-
Các chi phí tố tụng khác:
Chi phí thuê đơn vị tư vấn đo đạc và chi phí định giá tài sản: 10.800.000 đồng.
- Buộc ông Trương Văn C, ông Trương S, bà Trương Thị L, bà Trương Thị N mỗi người phải chịu 2.160.000 đồng;
- Buộc ông Lê Đình T, bà Lê Thị Kim P, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải chịu 540.000 đồng;
Ông Trương Văn C đã nộp tạm ứng toàn bộ chi phí nêu trên và đã thanh toán xong nên ông S, bà L, bà N mỗi người phải hoàn trả lại cho ông C 2.160.000 đồng; ông T, bà P, bà L2 và bà L1 mỗi người phải hoàn trả lại cho ông C 540.000 đồng.
-
Án phí DSST:
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn ông Trương S vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai hợp lệ bản án.
|
* Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đình Quyến |
Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 09/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 61/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn Trương Văn C và bị đơn Trương S
