|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/DS-PT Ngày 16 tháng 5 năm 2024 V/v “Tranh chấp hụi, họ, biêu, phường” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2024/TLPT-DS ngày 08/4/2024 về “Tranh chấp hụi, họ, biêu, phường”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DSST Ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 95/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
-
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh N, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
-
- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1982 (vắng mặt); Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 (có mặt); Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Năm 2017, 2018 bà có tổ chức chơi các dây họ tại địa phương, có sự tham gia của vợ chồng ông Nguyễn Chí C, bà Nguyễn Thị T. Việc chơi họ để làm ăn, giúp đỡ kinh tế lẫn nhau. Quá trình chơi họ, ông C, bà T có vay của
quỹ tiền họ 03 lần cụ thể như sau: Lần 1, ngày 25/5/2019, vay số tiền 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng); Lần 2, ngày 21/9/2019, vay số tiền 111.000.000 đồng (một trăm mười một triệu đồng); Lần 3, ngày 21/02/2020, vay số tiền 96.000.000 đồng (chín mươi sáu triệu đồng). Tổng số tiền vợ chồng ông C, bà T vay của quỹ họ do bà làm chủ họ là 294.000.000 đồng (hai trăm chín mươi tư triệu đồng), đây là tiền phường họ do bà đứng làm chủ phường, vợ chồng ông C, bà T húc họ nên tại mỗi dây họ phải đóng hàng tháng 3.000.000 đồng/tháng/dây họ.
Sau khi nhận tổng số tiền vay họ là 294.000.000 đồng, ông C, bà T có đóng tại các dây họ và còn nợ lại tiền họ mà bà làm chủ họ như sau: Dây họ thứ nhất vào ngày 25/5/2019, ông C, bà T còn nợ 11 tháng họ (tức 33.000.000 đồng); Dây họ thứ 2 vào ngày 21/9/2019, ông C, bà T còn nợ 25 tháng họ (tức 75.000.000 đồng); Dây họ thứ 3 vào ngày 21/2/2020, ông C, bà T còn nợ 25 tháng họ (tức 75.000.000 đồng). Như vậy, ông C, bà T còn nợ bà số tiền tại 03 dây họ là 183.000.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu đồng).
Đối với 02 giấy xác nhận nộp tiền họ bà T nộp, sau này bà được biết bà T có đóng cho vợ chồng ông bà Luyến N1 7.000.000 đồng; ông bà Lâm Trịnh 20.000.000 đồng, bà đồng ý trừ số tiền 27.000.000 đồng nợ họ của ông C, bà T. Nay bà chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông C, bà T phải trả cho bà số tiền họ còn nợ lại là: 156.000.000 đồng.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày: Trong các năm 2017-2018, bà có tự nguyện tham gia chơi phường (tức chơi họ, hụi), trong đó bà M làm chủ phường họ. Khi chơi phường (chơi hụi, họ) không có lãi, chơi phường húc. Ai húc thấp (gắp phiếu thấp) thì được lấy trước, những người chơi đóng như đã húc. Người chưa được lấy thì phải nộp tiền cho người được lấy. Việc chơi họ trên, hai bên hoàn toàn tự nguyện. Bà xác nhận chữ ký tại 03 giấy vay tiền phường bà M cung cấp là của bà, có chữ ký của ông C là do bà ký thay.
Bà T đồng ý và xác nhận tại dây họ thứ nhất vào ngày 25/5/2019, bà T còn nợ bà M 11 tháng họ (tức 33.000.000 đồng); dây họ thứ 2, dây họ này có 50 suất, bà đã húc ở tháng 16, sau đó bà đóng đến tháng thứ 25, như vậy tại dây họ này bà còn nợ bà M 25 suất họ. Số tiền bà còn nợ bà M là 75.000.000 đồng ở dây họ này, sau đó, bà tiếp tục đóng tiếp 9 tháng nữa tương ứng 27.000.000 đồng. Vậy tại dây họ này, bà còn nợ bà M 48.000.000 đồng; dây họ thứ 3, bà đã đóng cho bà M được 23 suất, tại dây họ này, bà M còn nợ bà T 23 suất tương ứng 69.000.000 đồng (chưa lĩnh).
Ngoài ra, bà còn trả cho ông bà Luyến Nhã 7.000.000 đồng; ông bà Lâm T1 20.000.000 đồng thay cho bà M tại các dây họ. Như vậy, tính tổng số bà M còn nợ bà 15.000.000 đồng do bà T không để ý đã đóng thừa tiền cho bà M.
Nay bà M khởi kiện yêu cầu buộc vợ chồng bà phải trả số tiền phường còn nợ là 156.000.000 đồng thì bà không đồng ý do đã đóng đủ số tiền vay tại các dây họ cho bà M.
Bị đơn là anh Nguyễn Chí C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn D trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần
nhưng ông C, anh D không có mặt tại Tòa án và Tòa án cũng không thể lấy lời khai được của ông C, anh D.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã căn cứ vào các điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; điều 235, 264, 266, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, xử:
-
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
-
Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Chí C trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền phường còn nợ là 156.000.000 đồng (Một trăm lăm mươi sáu triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11 tháng 3 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, phía bà M đề nghị chuyển cơ quan cảnh sát điều tra, đồng thời không tranh luận, phía đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không phát biểu tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Các đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T nộp trong hạn luật định đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-
[2] Về nội dung:
Thứ nhất, trong năm 2017 và 2018 giữa bà T có tham gia chơi 03 xuất họ do bà M làm chủ họ. Theo thỏa thuận bà M là chủ họ có trách nhiệm theo dõi các bát họ, khi người chơi lấy tiền họ thì sẽ phải viết giấy nhận nợ với bà M tương ứng với số tiền chưa đóng của dây họ. Còn khi người chơi đóng tiền họ thì bà M sẽ ký nhận số tiền người chơi đóng hành tháng. Việc chơi họ giữa các bên là hợp pháp, khi tham gia chơi họ các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Những thỏa thuận của các bên khi
tham gia chơi họ đều tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp hụi, họ, biêu, phường là phù hợp với quy định.
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự thì có căn cứ để xác định bà Nguyễn Thị T có tham gia 03 dây họ do bà Nguyễn Thị M làm chủ họ. Trong đó, các dây họ không có lãi, mỗi dây họ có 50 xuất, mỗi xuất là 3.000.000 đồng/tháng, ai gắp phiếu thấp thì được lấy trước. Khi lấy họ thì phải viết giấy nhận nợ đối với chủ họ.
Đối với dây họ thứ nhất, theo giấy vay tiền họ ngày 25/5/2019 có nội dung bà T vay số tiền 87.000.000 đồng tương đương 29 tháng đóng họ, mỗi tháng phải đóng số tiền 3.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ để xác định rằng, ngày 25/5/2019 (tháng thứ 21) bà T đã lấy tiền họ và bà T còn phải có nghĩa vụ đóng họ 3.000.000 đồng/tháng trong thời gian 29 tháng. Đối với dây họ này, giữa bà T và bà M thống nhất, xác nhận bà T còn nợ 11 xuất họ là 33.000.000 đồng.
Đối với dây họ thứ hai, theo giấy vay tiền họ ngày 21/9/2019 có nội dung bà T vay số tiền 111.000.000 đồng tương đương 37 tháng đóng họ, mỗi tháng phải đóng số tiền 3.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ để xác định rằng, ngày 21/9/2019 (tháng thứ 13) bà T đã lấy tiền họ và bà T còn phải có nghĩa vụ đóng họ 3.000.000 đồng/tháng trong thời gian 37 tháng. Đối với dây họ này bà Minh xác đ bà T đã đóng đến tháng 25 còn 25 tháng chưa đóng tương ứng với số tiền 75.000.000 đồng. Bà T cho rằng, bà có tiếp tục đóng tiếp 9 tháng tương ứng 27.000.000 đồng. Tại dây họ này, bà T xác nhận còn nợ 48.000.000 đồng.
Đối với dây họ thứ ba, theo giấy vay tiền họ ngày 21/02/2020 có nội dung bà T vay số tiền 96.000.000 đồng tương đương 32 tháng đóng họ, mỗi tháng phải đóng số tiền 3.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ để xác định rằng, ngày 21/02/2020 (tháng thứ 18) bà T đã lấy tiền họ và bà T còn phải có nghĩa vụ đóng họ 3.000.000 đồng/tháng trong thời gian 32 tháng. Đối với dây họ này bà Minh xác đ bà T đã đóng đến tháng 25 còn 25 tháng chưa đóng tương ứng với số tiền 75.000.000 đồng. Bà T xác nhận đã nộp tiền họ đến tháng thứ 23 và bà chưa lấy họ ở dây họ này. Bà T cho rằng giấy vay họ do bà M cung cấp là bản nháp bà ký nhận nhưng không ghi số tiền nhận nợ, sau đó bà có nói bà M hủy đi nhưng bà M không hủy. Ở dây họ này bà đã đóng được đến tháng thứ 23 với tổng số tiền là 69.000.000 đồng. Tuy nhiên ngoài lời trình bày của mình, bà T không đưa ra được căn cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Do đó, có căn cứ để cho rằng bà T đóng họ đến tháng thứ 25 của dây họ này. Yêu cầu của bà M buộc vợ chồng bà T phải trả số tiền 75.000.000 đồng tương ứng với 25 xuất họ chưa đóng là có căn cứ.
Thứ hai, trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cung cấp 02 giấy xác nhận đã nộp tiền phường cho vợ chồng anh chị L Nhã số tiền 7.000.000 đồng và vợ chồng anh chị Lâm Trịnh số tiền 20.000.000 đồng. Bà M cũng xác nhận việc bà T đóng tổng số tiền
27.000.000 đồng trên và trừ vào số tiền bà T còn nợ trong các dây họ. Do dó, số tiền 27.000.000 đồng bà T đã đóng là phù hợp với lời khai của bà tại dây họ thứ hai.
Thứ ba, nguyên đơn là bà M không cung cấp được sổ họ, nhưng căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và sự thừa nhận của bà T về việc chơi họ và đóng họ như trên thì có đủ căn cứ để xác định, tổng số tiền mà bà M yêu cầu bà T và ông C (chồng bà T) phải có nghĩa vụ trả 3 dây họ là có căn cứ, cụ thể: 33.000.000 đồng + (75.000.000 đồng - 27.000.000 đồng) + 75.000.000 đồng = 156.000.000 đồng. Bà T cho rằng bà đã đóng các xuất họ như bà trình bày ở trên, nhưng ở dây họ thứ ba ngày 21/02/2020 bà chưa lấy họ, tổng số tiền bà đã nộp cho bà M ở dây họ này là 69.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày bà T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng mình cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ. Bà T kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T, do đó, cần bác toàn bộ kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
-
[3] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
-
[4]. Về án phí phúc thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 05/2024/DSST Ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002292 ngày 12/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Ngọc Sơn – Nguyễn Văn Nam |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 61/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hụi, họ, biêu, phường
- Số bản án: 61/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi, họ, biêu, phường
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi, họ, biêu, phường giua Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1971; Bị đơn: Ông Nguyễn Chí Cường, sinh năm 1982
