Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 61/2022/DS-PT

Ngày 22/3/2022

V/v: “Yêu cầu công nhận tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đ.M.H.
Các Thẩm phán: Ông N.Q.T
Ông Đ.N.L
  • - Thư ký phiên tòa: Bà V.T.D - Thư ký TAND TP Hà Nội.
  • - Đại diện VKSNDTP. HN: Ông N.M.T - Kiểm sát viên.

Ngày 22/3/2022, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2021/TLPT-DS ngày 07/12/2021 về: “Yêu cầu công nhận tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung”.

Do bản án sơ thẩm số 47/2021/DS-ST ngày 15/7/2021 của Toà án nhân dân quận B.T.L, Thành phố HN bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2022/QĐXX-PT ngày 10/01/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị P, sinh năm 1933. Trú tại: Số 87, ngõ 138 đường Cầu Diễn, TDP Văn Trì 4, phường Minh Khai, quận B.T.L, HN. Người đại diện theo uỷ quyền của cụ P là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957, Trú tại: TDP 4, phường Minh Khai, quận B.T.L, H.N. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Viết H, sinh năm 1977. Trú tại: Số 87, ngõ 138 đường Cầu Diễn, TDP Văn Trì 4, phường Minh Khai, B.T.L, H.N. Có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Hoàng Minh H - Văn phòng luật sư HHM Việt Nam, Đoàn luật sư TP HN. Có mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1. Cụ Nguyễn Viết H, sinh năm 1934. Trú tại: Số 87, ngõ 138, đường Cầu Diễn, tổ dân phố Văn Trì 4, phường Minh Khai, B.T.L, HN. Người đại diện theo uỷ quyền của cụ H là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967. Trú tại: Tổ dân phố 02 Tu Hoàng, phường Phương Canh, quận N.T.L, HN. Có mặt.
  • 3.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Trú tại: Phòng 1714 Tòa HHB, khu nhà ở chiến sỹ Bộ Công An, Cổ Nhuế 2, B.T.L, HN. Có mặt.
  • 3.3. Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1986; Trú tại: Tu Hoàng, phường Phương Canh, N.T.L, HN. Có mặt.
  • 3.4. Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989 (vợ ông H); Trú tại: Số 87, ngõ 138, đường Cầu Diễn, Tổ dân phố Văn Trì 4, phường Minh Khai, quận B.T.L, HN. Có mặt.
  • 3.5. Cháu Nguyễn Viết L, sinh năm 2011.
  • 3.6. Cháu Nguyễn Viết N, sinh năm 2014.
  • - Người đại diện theo pháp luật cho cháu L, cháu N là ông H, bà T là bố mẹ đẻ của các cháu. Có mặt.
  • 3.8. Chị Phạm Thị Kim D, sinh năm 1978.
  • 3.9. Anh Đào Anh N, sinh năm 1977. Cùng Trú tại: Ngách 85, ngõ 138, đường Cầu Diễn, tổ dân phố Văn Trì 4, phường Minh Khai, B.T.L, HN. Cùng vắng mặt.

4. Người kháng cáo:

  • 4.1. Ông Nguyễn Viết H - là bị đơn. Có mặt.
  • 4.2. Cụ Nguyễn Viết H và người đại diện theo uỷ quyền của cụ H là bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị Th; anh Nguyễn Đức T – là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Có mặt bà Th, bà T và anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ vụ án sơ thẩm:

1. Nguyên đơn - cụ Nguyễn Thị P trình bày: Cụ được cố Vương Thị B (tức Đồng T) để lại cho thửa đất số 94, tờ bản đồ số 09; hiện nay là số 87, ngõ 138 đường Cầu Diễn, tổ dân phố Văn Trì 4, phường Minh Khai, quận B.T.L, Hà Nội. Sau khi kết hôn với cụ Nguyễn Viết H thì vợ chồng cụ cùng sinh sống trên đất thửa đất này. Ngày 09/7/2003 được UBND huyện Từ Liêm cấp GCNQSDĐ số U722418 đứng tên hộ gia đình cụ Nguyễn Viết H. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ gia đình cụ gồm có các nhân khẩu: Nguyễn Viết H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Viết H, Nguyễn Thị H, Nguyễn Đức T. Cụ và cụ H có 08 người con đẻ. Năm 2005, gia đình cụ đã chuyển nhượng 25,2m2 đất cho vợ chồng anh Đào Anh N và chị Phạm Thị Kim D. Tài sản trên đất còn lại gồm: 01 nhà 03 tầng; 01 gian bếp; dãy nhà 2 tầng cho thuê trọ; sân gạch; cổng, vườn. Cụ khởi kiện đề nghị Tòa án xác định khối tài sản trên là của vợ chồng cụ, buộc ông H không được cản trở việc cụ sử dụng đồng thời chia cho cụ 1 phần diện tích trong thửa đất số 94 để cụ có chỗ ăn ở riêng, an hưởng tuổi già.

2. Bị đơn - ông Nguyễn Viết H trình bày: Về nguồn gốc nhà đất tại thửa đất số 94 và quan hệ huyết thống ông nhất trí như cụ Nguyễn Thị P trình bày. Năm 2010, ông lập gia đình và sinh sống ổn định trên mảnh đất cùng bố mẹ để chăm nom bố mẹ. Nay cụ P khởi kiện, ông không đồng ý vì Nhà nước cấp GCNQSDĐ số U722418 mang tên cụ H. Nay bố mẹ đã già yếu, ông có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ nên bố mẹ cần ở cùng vợ chồng ông để tiện chăm nom.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cụ H và đại diện theo ủy quyền là bà Th cùng nhất trí về nguồn gốc nhà đất nhưng không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của cụ P vì hiện cụ H, cụ P đã già yếu cần phải ở chung với nhau để con cái tiện chăm sóc. Bà Nguyễn Thị H và các con khác có ý kiến khác nhau, trong đó bà H ủng hộ việc chia tài sản cho cụ P.

Bản án sơ thẩm số 47/2021/DS-ST ngày 15/7/2021 của Toà án nhân dân quận B.T.L, Thành phố Hà Nội xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị P đối với anh Nguyễn Viết H. Xác định 414,6 m2 và các công trình xây dựng trên đất thuộc tài sản chung của hộ gia đình cụ Nguyễn Viết H, cụ Nguyễn Thị P. Chia cho cụ Nguyễn Thị P diện tích đất 122,9 m2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Cấp sơ thẩm đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người kháng cáo nộp đơn đúng hạn.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn là ông H và những người có quyền lợi liên quan. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản. Mục đích yêu cầu chia tài sản chung của cụ P là nhằm có chỗ ở riêng, không muốn ở chung với vợ chồng ông H. Nay vợ chồng ông H đã chuyển đến chỗ khác ở, trả lại nhà đất tại thửa đất số 94 cho 2 cụ. Các bên thống nhất giao cho cụ P phần đất 203,3m2 (có nhà 3 tầng) và chia cho cụ H phần đất 211,3m2 đất ở còn lại.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 147, 148, 227, 228, 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Viết H và những người có quyền lợi liên quan. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2021/DS-ST.
  2. Xác định 414,6 m2 và toàn bộ các tài sản gắn liền trên đất tại thửa số 94, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: Số 87, ngõ 138, đường Cầu Diễn là tài sản chung vợ chồng của cụ Nguyễn Viết H - cụ Nguyễn Thị P.
  3. Chia tài sản chung vợ chồng giữa cụ Nguyễn Viết H - cụ Nguyễn Thị P được hưởng riêng cụ thể như sau:
    • 3.1. Chia cho cụ Nguyễn Thị P diện tích 203,3m2 đất cùng các tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà bê tông 3 tầng, một phần nhà gạch, sân gạch, mái tạm và nhà 2 tầng cho thuê.
    • 3.2. Chia cho cụ Nguyễn Viết H diện tích 211,3 m2 đất ở còn lại và các tài sản gắn liền trên phần đất cụ H được chia.
    • 3.3. Cụ Nguyễn Thị P, cụ Nguyễn Viết H tự mở lối đi riêng ra ngõ 138 đường Cầu Diễn.
  4. Về án phí: Cụ Nguyễn Thị P và cụ Nguyễn Viết H được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND TP. Hà Nội;

- TAND quận B.T.L;

- CCTHADS quận B.T.L;

- Lưu HS/VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Đ.M.H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2022/DS-PT ngày 22/03/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về yêu cầu công nhận tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung

  • Số bản án: 61/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger