|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 609/2024/DS-ST
Ngày: 21-8-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Nhung
- Ông Nguyễn Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 217/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 663/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 872/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T (Theo Giấy uỷ quyền số 4864/2023/UQ-TGĐ ngày 22/12/2023) – Có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thanh T1, sinh năm: 1981 – Vắng mặt
Địa chỉ: 51/10/3 P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Ngân Hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/07/2018, bà Hoàng Thị Thanh T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 53.834.577 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 61.139.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/03/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 19/12/2023, bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền: 19.848.739 đồng, trong đó: nợ gốc là 14.288.883 đồng, lãi quá hạn là 5.559.856 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà T1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/12/2023 là 19.848.739 đồng, trong đó: nợ gốc là 14.288.883 đồng, lãi quá hạn là 5.559.856 đồng. Đồng thời bà Hoàng Thị Thanh T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/12/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Do bà Hoàng Thị Thanh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà T1.
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự giải quyết tranh chấp nhưng bị đơn không đến Tòa án để giải quyết mà không có lý do chính đáng, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Ông Trần Đức T - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, đồng thời gửi bản tự khai với trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bà Hoàng Thị Thanh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 21/8/2024 là: 24.710.191 đồng, trong đó: nợ gốc là 14.288.883 đồng, lãi quá hạn là 10.421.308 đồng. Đồng thời bà Hoàng Thị Thanh T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
- - Bị đơn bà Hoàng Thị Thanh T1 vắng mặt không có lý do chính đáng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/7/2018 được ký kết giữa Ngân hàng và bà Hoàng Thị Thanh T2 là hoàn toàn tự nguyện. Bà T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí đề nghị tính theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng thẻ tín dụng. Do bị đơn là bà Hoàng Thị Thanh T1 trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Trần Đức T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn - bà Hoàng Thị Thanh T1 mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà T3 quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 24.710.191 đồng, trong đó: nợ gốc là 14.288.883 đồng, lãi quá hạn là 10.421.308 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/7/2018 xác định giữa Ngân hàng TMCP S và bà Hoàng Thị Thanh T1 đã giao kết hợp đồng cấp thẻ tín dụng. Do bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, đồng thời làm đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân quận Tân Phú là có căn cứ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 21/8/2024 là: 24.710.191 đồng, trong đó: nợ gốc: 14.288.883 đồng, nợ lãi quá hạn: 10.421.308 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy do các thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc và lãi.
Về thời hạn và phương thức thanh toán: Xét thấy do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ làm một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận. Kể từ ngày 22/8/2024, bà T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng cho đến khi bà T1 thanh toán xong khoản nợ.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có cơ sở nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Hoàng Thị Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số nợ phải thanh toán là 1.235.510 đồng.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 496.218 đồng cho Ngân hàng TMCP S theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007823 ngày 27/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng TMCP S.
Buộc bà Hoàng Thị Thanh T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/7/2018 tính đến ngày 21/8/2024 là: 24.710.191 đồng, trong đó: nợ gốc: 14.288.883 đồng, lãi quá hạn: 10.421.308 đồng.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 22/8/2024, bà T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 17/7/2018 giữa Ngân hàng TMCP S1 Tín với bà Hoàng Thị Thanh T1 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Hoàng Thị Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.235.510 đồng.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 496.218 đồng cho Ngân hàng TMCP S theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007823 ngày 27/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP S, bà Hoàng Thị Thanh T1 được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Huyền Minh |
Bản án số 609/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 609/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
