Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 609/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/06/2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Nguyên
  2. Ông Vũ Huy Hoàng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân_Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đ – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1131/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 451/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 416/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm: 1984; Địa chỉ: số B, ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh_có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 1979; Địa chỉ: số A ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh_vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc: “Ly hôn” nguyên đơn là bà Lê Thị Mỹ L trình bày giữa bà và ông Nguyễn Tuấn K sau khi quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn vào năm 2006 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 32, Quyển số: 01/2006 do Ủy ban nhân dân phường G, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2006). Giữa bà và ông Nguyễn Tuấn K chung sống với nhau có 02 (hai) con chung là: Nguyễn Lê Minh T, sinh ngày 30/11/2006 – đã trưởng thành và Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012.

Trong thời gian chung sống, bà và ông Nguyễn Tuấn K thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống.

Tại Tòa hôm nay, bà Lê Thị Mỹ L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K; Về con chung: có 02 (hai) con chung là Nguyễn Lê Minh T, sinh ngày 30/11/2006 – đã trưởng thành và Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012, bà xin được nuôi trẻ Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012, bà không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về phía ông Nguyễn Tuấn K, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã nhiều lần triệu tập ông đến đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Tuấn K vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy báo hợp lệ, do đó Tòa án không thể tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật. Do ông Nguyễn Tuấn K vắng mặt tại phiên tòa (mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ), nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Tuấn K là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mỹ L. Giao trẻ Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012 cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của đương sự, cùng các tài liệu có trong hồ sơ, bà Lê Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để xác định đây là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Nguyễn Tuấn K cư trú tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết.

[1.2] Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông Nguyễn Tuấn K đến trụ sở Tòa án để trình bày ý kiến, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và tham dự phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhưng ông Nguyễn Tuấn K vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Tuấn K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2006, bà Lê Thị Mỹ L và ông Nguyễn Tuấn K sau khi quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng và hai bên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 32, Quyển số: 01/2006 do Ủy ban nhân dân phường G, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2006). Việc bà Lê Thị Mỹ L và ông Nguyễn Tuấn K tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng là có thật và hai bên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống giữa bà Lê Thị Mỹ L và ông Nguyễn Tuấn K có nhiều mâu thuẫn. Năm 2024, do hai bên chung sống không hạnh phúc nên bà Lê Thị Mỹ L đã nộp đơn ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh vì bà khẳng định rằng giữa hai người đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình về: “Tình nghĩa vợ chồng”; tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình có quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn...”. Nay tại tòa bà Lê Thị Mỹ L yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.

Tại Công văn số 605/UBND ngày 28/02/2025 Ủy ban nhân dân xã T cho biết không nắm được thông tin về cuộc sống hôn nhân của bà L và ông K, không có tiến hành giải quyết mâu thuẫn về hôn nhân giữa bà L và ông K nên không thể cung cấp thông tin cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Tuấn K vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà L, không có bất kỳ động thái nào để níu kéo, cứu vãn cuộc hôn nhân này. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu các quy định trên của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà L là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ L xin được ly hôn đối với Nguyễn Tuấn K.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau, giữa bà Lê Thị Mỹ L và ông Nguyễn Tuấn K có 02 (hai) con chung là Nguyễn Lê Minh T, sinh ngày 30/11/2006 – đã trưởng thành và Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012; trẻ T đã trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết. Bà L xin được nuôi trẻ Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012, bà không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, thì Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Hiện trẻ Nguyễn Lê Minh T, sinh ngày 30/11/2006 – đã trưởng thành, Tòa không xem xét; còn trẻ Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012 đang do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông K vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông K về con chung giữa ông và bà L. Đồng thời, tại biên bản ghi nhận ý kiến, trẻ T1 có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo ổn định về cuộc sống và các điều kiện phát triển về tinh thần của trẻ, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là trẻ Nguyễn Lê Minh T1, sinh ngày 03/04/2012 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật; Theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình thì ông K có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở ông K thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: bà Lê Thị Mỹ L khai tự thỏa thuận, nên Tòa không đặt ra để giải quyết.

[2.4] Về nợ chung, các nghĩa vụ dân sự khác: bà Lê Thị Mỹ L khai không có nên Tòa không xét đến.

Về phía ông Nguyễn Tuấn K, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do; căn cứ vào biên bản tống đạt, thông báo, các biên bản tống đạt giấy triệu tập hòa giải, cho thấy Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Tuấn K theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Tuấn K không có ý kiến và cũng không đến tòa để hòa giải, chứng tỏ ông Nguyễn Tuấn K không có thiện chí để đoàn tụ và không có ý thức tôn trọng pháp luật, do vậy nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của phía nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Lê Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 63, Điều 147, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Mỹ L đối với ông Nguyễn Tuấn K.

    Cho bà Lê Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K. Giấy chứng nhận kết hôn số: 32, Quyển số: 01/2006 do Ủy ban nhân dân phường G, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2006 không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Giao con chung là trẻ Nguyễn Lê Minh T1 (giới tính: nữ), sinh ngày 03/04/2012 cho bà Lê Thị Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Lê Thị Mỹ L không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn K cấp dưỡng nuôi con chung; Nếu sau này bà Lê Thị Mỹ L có yêu cầu Tòa sẽ giải quyết sau.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về tài sản chung: Do bà Lê Thị Mỹ L khai tự thỏa thuận, nên Tòa không đặt ra để giải quyết.
  4. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Do bà Lê Thị Mỹ L tự khai không có nên Tòa không xét đến.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm là: bà Lê Thị Mỹ L chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Mỹ L đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0051650 ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

-Nơi nhận:

  • - TANDTP.HCM.
  • - VKSNDTP.HCM.
  • - VKSNDH.Bình Chánh.
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H.Bình Chánh.
  • - UBND phường 7, quận 8, TP. Hồ Chí Minh.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu VP, HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 609/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 609/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger