Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

Bản án số: 609/2025/DS-PT

Ngày: 03-06-2025

V/v Tranh chấp về đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Thẩm phán:Bà Võ Thị Kim Thương
Bà Trần Thị Kim Quy
- Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 5 và ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 449/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2438/2025/QĐPT-DS ngày 08/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T năm 1975

Địa chỉ thường trú: 104 N, phường T, thành phố T, Thành phố H chỉ liên hệ: B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1990; địa chỉ: G Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 19/5/2025).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P C1 sinh năm 1987

Địa chỉ thường trú: 096/BL, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre cư trú: Căn hộ 8.02 Cao ốc Văn phòng T4 số A, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Vũ Hữu Thiên  sinh năm 1971, địa chỉ: Căn hộ C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 09/5/2025).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Anh T1 – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị M H1 sinh năm 1983

Địa chỉ: A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị P C1 là bị đơn.

(Ông C1 ông Â, Luật sư T1 có mặt, bà H1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T2 quyền cho người đại diện trình bày:

Bà Nguyễn Thị Xuân T3 bà Nguyễn Thị P C1 có mối quan hệ quen biết chị em, bạn bè thân thiết, vì vậy bà Xuân T11 thỏa thuận bằng lời nói với bà P C1 về việc bà T chuyển tiền cho bà C1 để nhờ bà C1 đứng tên dùm các tài sản sau:

Căn hộ số 8.02 có diện tích sàn 42m², thuộc Cao ốc Văn phòng T4 số A- B N, Phường A (nay là Phường A), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là căn hộ số 8.02). Giá trị nhận chuyển nhượng là 3.400.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm triệu đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM246608, số vào sổ cấp GCN: CS01610 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H ngày 07/12/2018 cho bà Nguyễn Thị P C1 (sau đây viết tắt là GCN căn hộ).

Phần đất có diện tích 304,2m² thuộc thửa đất số: 1619, tờ bản đồ số: 5, tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre Giá trị nhận chuyển nhượng là 2.000.000.000 (hai tỷ đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CQ452092, số vào sổ cấp GCN: CS08023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 21/01/2019 cho bà Nguyễn Thị P C1

Thực hiện thỏa thuận, bà T4 chuyển tiền cho bà C1 03 lần qua ngân hàng với số tiền là 4.700.000.000 đồng, cụ thể:

  • Ngày 26/9/2018, bà T28 khoản số tiền là 1.000.000.000 đồng cho bà C1 có nội dung: “Nguyễn Thị Xuân T chuyển tiền mua đất”.
  • Ngày 02/11/2018, bà T28 khoản số tiền là 3.200.000.000 đồng cho bà C1 có nội dung: “Xuân Thủy chuyển tiền mua nhà NVL”.
  • Ngày 12/8/2019, bà T28 khoản số tiền là 500.000.000 đồng cho bà C1 có nội dung: “Mua dùm đất Bến Tre”.

Ngoài ra, bà T5 giao trực tiếp cho bà C1 số tiền 700.000.000 đồng.

Tổng cộng là 5.400.000.000 đồng (năm tỷ bốn trăm triệu đồng).

Sau đó, bà T nhiều lần yêu cầu bà C1 sang tên tài sản là căn hộ và diện tích đất nêu trên cho bà T6 bà C1 không đồng ý.

Đến ngày 26/6/2023, bà C1 thỏa thuận trả lại căn hộ cho bà T6 do căn hộ nêu trên bà C1 đang thế chấp tại ngân hàng và còn nợ khoản tiền vay ngân hàng là 220.000.000 đồng. Vì vậy, hai bên thống nhất bà T7 bà C1 vay số tiền 220.000.000 đồng để thanh toán nợ ngân hàng, nhận lại bản chính GCN căn hộ và sang tên cho bà T8 Do vậy, bà T4 chỉ đạo nhân viên là bà Bùi Thị M H1 chuyển khoản cho bà C1 số tiền 220.000.000 đồng để bà C1 thanh toán nợ vay, nhận lại bản chính GCN căn hộ và làm thủ tục sang tên cho bà T Tuy N, sau khi thanh toán xong khoản nợ cho ngân hàng, bà C1 tự nguyện giao lại bản chính GCN căn hộ cho bà T9 nhưng không chịu sang tên căn hộ cho bà T10 C1 cố tình tránh né bà T rất nhiều lần.

Bên cạnh đó, hiện nay bà C1 đang quản lý, sử dụng một xe máy hiệu Vespa Piaggo, biển số: 59B1-513.04 theo chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 02B167 do bà Nguyễn Thị Xuân T11 đứng tên.

Do vậy, bà T12 kiện yêu cầu bà C1 hoàn trả các tài sản gồm:

  • Số tiền 5.400.000.000 đồng, trong đó bao gồm 700.000.000 đồng tiền mặt và 4.700.000.000 đồng chuyển khoản mà bà T4 đưa cho bà C1 để mua căn hộ và diện tích đất nêu trên.
  • Số tiền 220.000.000 đồng mà bà C1 đã vay mượn để thanh toán nợ ngân hàng và lấy bản chính GCN căn hộ.

Một xe máy hiệu Vespa Piaggo, biển số: 59B1-513.04 theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 02B167 đứng tên bà T Theo biên bản thẩm định tại chỗ thì chiếc xe trên đã thay đổi màu sơn từ màu đen (ban đầu) sang màu đỏ (hiện nay).

Trong quá trình Tòa án giải quyết, bà C1 không thừa nhận số tiền 700.000.000 đồng mà bà T13 nên bà T14 định không yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền 700.000.000 đồng.

Như vậy, nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện:

Buộc bị đơn phải trả tổng số tiền là 4.920.000.000 đồng và chiếc xe máy hiệu Vespa Piaggo, biển số: 59B1-513.04 cho nguyên đơn. Trường hợp bà Chi trả hết số tiền nêu trên thì bà T15 ý trả lại bản chính GCN căn hộ 8.02 cho bà C1

Tại các bản tự khai và trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Phương Chi ủy Q người đại diện trình bày:

Trước đây, bà C1 và bà T16 mối quan hệ trên mức tình cảm bạn bè, sau một thời gian quen nhau, thấy bà C1 không có nhà ở nên bà T17 tặng cho bà C1 một số tiền để mua nhà ở nhằm ổn định cuộc sống, có vốn làm ăn. Sau đó bà T18 động chuyển khoản 03 lần tặng cho bà C1 cụ thể: Ngày 26/9/2018 với số tiền là 1.000.000.000 đồng, ngày 02/11/2018 với số tiền là 3.200.000.000 đồng, ngày 12/8/2019 với số tiền là 500.000.000 đồng. Do cả 03 lần tặng cho tiền đều thông qua hình thức chuyển khoản nên bà C1 không để ý nội dung chuyển khoản ghi là gì. Khi gặp nhau thì bà T19 chỉ nói với bà C1 là: "Chị tặng cho em ít tiền để em có vốn làm ăn, ổn định cuộc sống sau này”, bà C1 đồng ý nhận, ngoài ra hai bên không có bất kỳ cam kết hay thỏa thuận nào khác.

Đối với số tiền 220.000.000 đồng là khoản tiền bà H1 chuyển khoản cho bà C1 vay thông qua biên nhận xác nhận ngày 26/6/2023. Mục đích vay để giải chấp căn hộ 80.2 thuộc Cao ốc Văn phòng - Thương mại dịch vụ - Căn hộ T A, Phường A, quận P, Thành phố H khi giải chấp, bà C1 giao trực tiếp GCN căn hộ nêu trên cho bà H1 giữ để làm tin, khi nào bà C2 T2 lại tiền vay thì bà H1 trả lại GCN. Đây là giao dịch dân sự riêng giữa bà C1 và bà H1 không liên quan đến bà T

Đối với xe máy hiệu Vespa Piaggo, biển số: 59B1-513.04 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe số: 02B167 do bà T24 tên, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2024 của Tòa án thì chiếc xe đã thay đổi màu đen nguyên thủy thành màu đỏ (booc đô) là tài sản bà T20 để làm quà tặng cho bà C1 trong thời gian tình cảm hai bên còn gắn bó. Chiếc xe đã giao cho bà C1 quản lý và sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Nay bà T21 cầu trả xe thì bà C1 đồng ý. Tuy nhiên, hiện tại chiếc xe đang là phương tiện di chuyển duy nhất nên bà C1 đề nghị cho một khoảng thời gian hợp lý để tìm kiếm xe máy khác thay thế trước khi bàn giao xe lại cho bà T

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày bà Bùi Thị M H1 trình bày:

Bà H1 là nhân viên của bà T8 Ngày 26/6/2023, bà T2 quyền và giao cho bà H1 đi giải quyết công việc với bà C1 tại Ngân hàng N1 nhánh S Theo sự chỉ đạo của bà T, bà H1 đã chuyển khoản số tiền 220.000.000 đồng cho bà C1 để bà C1 giải chấp hợp đồng vay tại ngân hàng. Nay bà T12 kiện yêu cầu bà C2 T2 cho bà T32 tiền 220.000.000 đồng thì bà H1 hoàn toàn thống nhất với bà T

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T11

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P C1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Xuân T22 cộng số tiền: 4.920.000.000 đồng (Bốn tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/01/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Phương C2 T2 hết số tiền trên thì bà T23 lại cho bà C1 toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 246608, số vào sổ cấp GCN: CS 01610 do Sở T H cấp ngày 07/12/2018 cho bà Nguyễn Thị P C1

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị Xuân T3 bà Nguyễn Thị P C1 về việc giao trả chiếc xe máy hiệu Vespa biển số: 59B1-513.04, giấy chứng nhận đăng ký xe số: 02B167 do bà Nguyễn Thị Xuân T24 tên theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2024 chiếc xe đã thay đổi màu đen nguyên thủy thành màu (đỏ bốc đô) cho bà Nguyễn Thị Xuân T11

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 21/01/2025, bị đơn bà C1 kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Nguyên đơn ủy quyền cho ông Bùi Văn C3 bày: Nguyên đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ông C xác định hiện nay ngoài bản chính GCN căn hộ 8.02 thì nguyên đơn còn giữ bản chính Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số: LTB1870131-TK0006537/TB-CCT ngày 30/11/2018, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản số: LTB1870131-TK0006538/TB-CCT ngày 30/11/2018. Do vậy, khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ khoản tiền cho nguyên đơn thì nguyên đơn sẽ giao trả các bản chính giấy tờ trên cho bị đơn.

- Bị đơn ủy quyền cho ông Vũ Hữu Thiên Â1 bày: Trong quá trình cấp phúc thẩm thụ lý vụ án, bị đơn đã cung cấp chứng cứ mới là vi bằng lập ngày 13/5/2025, văn bản xác nhận của bà Nguyễn Thị T25 H2 ngày 12/5/2025 (bà H2 là bạn thân của nguyên đơn và bị đơn), quyết định số: 368/IVB-HR/2024 ngày 01/7/2024 của Ngân hàng I. Đồng thời trình bày: Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do bị đơn bà C4 trú ở Bến Tre, không có nơi cư trú và làm việc tại quận P Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là không đúng thẩm quyền. Về nội dung, cấp sơ thẩm nhận định đây là khoản tiền nguyên đơn chuyển cho bị đơn nhờ mua dùm căn hộ và diện tích đất ở Bến Tre là không chính xác. Sự thật mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn là yêu đương chứ không phải mối quan hệ chị em thân thiết như đại diện nguyên đơn trình bày. Bản chất của vụ án là hai bên có mối quan hệ yêu đương nên nguyên đơn tặng cho bị đơn các khoản tiền mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại. Do vậy, bị đơn kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giao lại cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết vụ án theo đúng quy định.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến và đề nghị:

Trong Đơn khởi kiện ngày 07/8/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân T26 đến Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận thông tin về bị đơn là: (1) Địa chỉ thường trú: tại 096/PL, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (2) Địa chỉ nơi làm việc: Ngân hàng 11, Phường A, quận P, Thành phố H án nhân dân quận P đã không thực hiện xác minh địa chỉ nơi làm việc, nơi cư trú của bị đơn. Ngày 02/10/2023, Tòa án ban hành Thông báo thụ lý vụ án số: 700/2023/TB-TLVA đã xác định thẩm quyền giải quyết dựa trên địa chỉ nơi làm việc của bị đơn.

Theo Đơn khởi kiện (sửa đổi, bổ sung) ngày 28/8/2024 của nguyên đơn nộp cho Tòa án ghi nhận thông tin về bị đơn: (1) Địa chỉ thường trú của bị đơn là tại: 096/PL, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (2) Địa chỉ nơi làm việc của bị đơn là: Ngân hàng 11, Phường A, quận P

Như vậy, tại thời điểm nguyên đơn nộp Đơn khởi kiện (sửa đổi, bổ sung) ngày 28/8/2024, bị đơn không còn làm việc tại Ngân hàng 12 tế, ngày 01/7/2024, bị đơn đã có Quyết định thôi việc tại Ngân hàng 11, Phường A, quận P (tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đã nộp Quyết định số: 368/IVB-HR/2024 ngày 01/7/2024).

Vì vậy, khi có đơn khởi kiện bổ sung, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận phải xác định lại thẩm quyền thụ lý và xem xét việc thụ lý vụ án bổ sung. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận không thực hiện việc này.

Do vậy, từ ngày 01/7/2024, căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận theo nơi làm việc của bị đơn đã không còn phù hợp. Điều này đã dẫn đến việc xác định không đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ (căn cứ theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự) và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.

Về nội dung thì cấp sơ thẩm xác định không đúng bản chất của sự việc là hai bên có mối quan hệ tình cảm yêu đương nên bà T27 cho bà C5 khoản tiền nêu trên chứ không phải chuyển tiền mua dùm tài sản như cấp sơ thẩm nhận định.

Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án số: 39/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận vì Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận không có thẩm quyền giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị P C1 nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên hợp lệ.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị M H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Về nội dung: Bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung:

[3.1] Bị đơn kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì giải quyết vụ án không đúng thẩm quyền:

Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 07/8/2023 của nguyên đơn ghi bị đơn có nơi làm việc tại Ngân hàng 13 chỉ: I N, Phường A, quận P Ngày 02/10/2023, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã thụ lý vụ án về việc: “Tranh chấp đòi tài sản” và ngày 10/10/2023 tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn nhận (bút lục số 15). Tại Hợp đồng ủy quyền ngày 20/11/2023, bị đơn bà Chi ủy Q cho Công ty L1 đại diện và nhân danh bà C1 tham gia tố tụng do Văn phòng C2 chứng nhận (bút lục số 62-64), bị đơn bà C1 cũng ghi nơi làm việc là Ngân hàng I, địa chỉ: I N, Phường A, quận P Tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số: 1562/2023/QĐ-CCTLCC ngày 10/10/2023 (bút lục số 126-127), Công an P1, quận P cũng xác nhận nội dung: Bà P C1 đang thực tế cư trú tại địa chỉ căn hộ H - Căn hộ T, số A- B N, Phường A (nay là Phường A), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy, bị đơn bà C1 có nơi cư trú và làm việc tại quận P Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận thụ lý và giải quyết vụ án sơ thẩm là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc không thay đổi thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ khi trong quá trình giải quyết bị đơn thay đổi nơi cư trú, làm việc.

Như vậy, tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện bị đơn trình bày, nộp quyết định nghỉ việc từ ngày 01/7/2024 để cho rằng bị đơn không có nơi làm việc tại quận P và yêu cầu kháng cáo hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không có căn cứ.

[3.2] Bị đơn kháng cáo cho rằng bản chất của hai bên là quan hệ yêu đương nên nguyên đơn chuyển khoản tặng cho bị đơn các khoản tiền. Đến năm 2022, do mâu thuẫn nên đòi lại tài sản đã cho là các khoản tiền đã chuyển khoản là không có căn cứ. Cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả lại số tiền nêu trên là không đúng bản chất sự việc nên yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Ngược lại, đại diện nguyên đơn khẳng định do 02 bên có mối quan hệ chị em, bạn bè thân thiết nên chuyển tiền cho bị đơn nhờ đứng tên dùm tài sản. Do đòi nhiều lần nhưng bị đơn không trả nên khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại các khoản tiền đã chuyển khoản cho nguyên đơn.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận nội dung nguyên đơn đã chuyển vào tài khoản của bị đơn tổng cộng số tiền 4.700.000.000 đồng, cụ thể:

  • Ngày 26/9/2018, bà T28 khoản số tiền là 1.000.000.000 đồng cho bà C1 thông qua ủy nhiệm chi có nội dung: “Nguyễn Thị Xuân T28 tiền mua đất”.
  • Ngày 02/11/2018, bà T28 khoản số tiền là 3.200.000.000 đồng cho bà C1 thông qua ủy nhiệm chi có nội dung: “Xuân Thủy chuyển tiền mua nhà NVL”.
  • Ngày 12/8/2019, bà T28 khoản số tiền là 500.000.000 đồng cho bà C1 thông qua ủy nhiệm chi có nội dung: “Mua dùm đất Bến Tre”.
  • Ngoài ra, ngày 26/6/2023, bà T29 nhân viên là bà H1 chuyển khoản cho bà C1 số tiền là 220.000.000 đồng có có nội dung: “Xuân Thủy chuyển khoản P C1 thanh lý hợp đồng vay”.

Hội đồng xét xử xét thấy, phía bị đơn kháng cáo cho rằng được nguyên đơn tặng cho toàn bộ các khoản tiền trên nhưng không cung cấp được chứng cứ về việc tặng cho các khoản tiền nêu trên. Ngược lại, lời khai của nguyên đơn là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vì các nội dung chuyển khoản cho bị đơn phía nguyên đơn đều ghi rất rõ nội dung: Nguyễn Thị Xuân T28 tiền mua đất, X chuyển tiền mua nhà NVL (theo giải thích NVL là viết tắt dự án của N1 mua dùm đất Bến Tre, X khoản P C1 thanh lý hợp đồng vay.

Mặt khác, nếu phía bị đơn cho rằng được tặng cho thì tại sao tại biên bản xác nhận ngày 26/6/2023 giữa bà C1 và bà H1 là người đại diện cho bà T, bà C1 lại xác nhận đã nhận 220.000.000 đồng để thanh toán khoản tiền vay ngân hàng và cam kết sau khi làm thủ tục giải chấp xong bà C1 sẽ tiến hành các thủ tục mua bán, sang tên căn hộ cho ông Nguyễn Trung T30 (là con của bà T31 đề nghị của bà T

Do vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tổng cộng số tiền 4.920.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị đơn và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện nguyên đơn xác định hiện nay ngoài bản chính GCN căn hộ 8.02 thì nguyên đơn còn giữ bản chính Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số: LTB1870131-TK0006537/TB-CCT ngày 30/11/2018, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản số: LTB1870131-TK0006538/TB-CCT ngày 30/11/2018.

Bên cạnh đó, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm có tuyên: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/01/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015”.

Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước... trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh lại nội dung tuyên án cho đầy đủ, chính xác.

Từ những phân tích và căn cứ quy định pháp luật nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà C1 phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định, được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí bà C1 đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Căn cứ vào Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P C1
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T11
    1. Buộc bà Nguyễn Thị P C1 phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Xuân T22 cộng số tiền: 4.920.000.000 đồng (bốn tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng).
    2. Trường hợp bà Nguyễn Thị Phương C2 T2 hết số tiền nêu trên thì bà T23 lại cho bà C1 bản chính các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM246608, số vào sổ cấp GCN: CS01610 do Sở T H cấp ngày 07/12/2018 cho bà Nguyễn Thị P C1 Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số: LTB1870131-TK0006537/TB-CCT ngày 30/11/2018, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản số: LTB1870131-TK0006538/TB-CCT ngày 30/11/2018.
    3. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về việc bà Nguyễn Thị P C1 giao trả cho bà Nguyễn Thị Xuân T11 chiếc xe máy hiệu Vespa Piaggo, biển số: 59B1-513.04, giấy chứng nhận đăng ký xe số: 02B167 do bà Nguyễn Thị Xuân T24 tên theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2024 (chiếc xe đã thay đổi màu sơn từ màu đen nguyên thủy thành màu đỏ (booc-đô)).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về án phí dân sự:

3.1.Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Nguyễn Thị P C1 phải nộp số tiền 112.920.000 đồng (một trăm mười hai triệu chín trăm hai mươi ngàn đồng).

H3 lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T32 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.975.000 đồng (bảy triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0022273 ngày 22/9/2023 và số tiền là 56.460.000 đồng (năm mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0029783 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2.Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị P C1 phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà C1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0055271 ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Phú Nhuận;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 609/2025/DS-PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về đòi tài sản

  • Số bản án: 609/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger