|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 609/2024/DS-ST
Ngày: 09-09-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Tốt
- Bà Nguyễn Thị Mây
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 426/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1154/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1398/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q;
Địa chỉ: B phố B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Bảo T, sinh năm: 1985;
Địa chỉ liên hệ: 1 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số: 5494/2024/UQ-BĐH.NCB ngày 05/8/2024).
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thái D, sinh năm: 1977;
Địa chỉ: 1 đường H, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/7/2022, bản tự khai, cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q, ông Lưu Bảo T trình bày:
Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Thái D có ký kết Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Phụ lục Hợp đồng cho vay số 01/PLHD/425/20/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, cụ thể:
- + Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng.
- + Thời hạn vay: 300 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân.
- + Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua bất động sản tại địa chỉ D V, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Lãi suất vay:
- Lãi suất kỳ đầu tiên: Lãi suất vay trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân là: 10.5%/năm.
- Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) 3.9%/năm. Lãi suất cơ sở được Ngân hàng TMCP Q ban hành theo từng thời kỳ.
- + Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, được áp dụng với nợ gốc quá hạn (bao gồm cả nợ gốc quá hạn trong trường hợp phải trả nợ trước hạn).
- + Lãi chậm trả lãi: Nếu chậm trả lãi thì phải trả lãi chậm trả lãi với lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi chậm trả lãi được tính trên cơ sở số tiền lãi phải trả nhưng chưa trả, lãi suất chậm trả lãi, số ngày chậm trả lãi.
Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Thái D có ký kết Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021; Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/27/21/HĐCV-9317 ngày 13/01/2021, cụ thể:
- + Số tiền vay: 1.830.000.000 đồng.
- + Thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân.
- + Mục đích sử dụng vốn vay: Vay thanh toán tiền sửa chữa BĐS tại địa chỉ D V, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Lãi suất vay:
- Lãi suất kỳ đầu tiên: Lãi suất vay trong vòng 03 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân là: 12.5%/năm.
- Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) 4.2%/năm. Lãi suất cơ sở được Ngân hàng TMCP Q ban hành theo từng thời kỳ.
- + Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, được áp dụng với nợ gốc quá hạn (bao gồm cả nợ gốc quá hạn trong trường hợp phải trả nợ trước hạn).
- + Lãi chậm trả lãi: Nếu chậm trả lãi thì phải trả lãi chậm trả lãi với lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi chậm trả lãi được tính trên cơ sở số tiền lãi phải trả nhưng chưa trả, lãi suất chậm trả lãi, số ngày chậm trả lãi.
Tạm tính đến ngày 09/9/2024, ông Nguyễn Thái D còn nợ Ngân hàng TMCP Q1 tiền như sau:
Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 tổng số tiền nợ là: 444.834.869 đồng, trong đó, số tiền gốc: 0 đồng, lãi trong hạn: 340.177.337 đồng, lãi quá hạn: 5.835.989 đồng, phạt chậm trả: 98.821.543 đồng.
Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021 tổng số tiền nợ là: 547.017.471 đồng, trong đó, số tiền gốc: 156.987.660 đồng, lãi trong hạn: 238.572.161 đồng, lãi quá hạn: 80.344.701 đồng, phạt chậm trả: 71.112.949 đồng.
2. Quá trình thanh toán nợ:
Sau khi vay vốn ông Nguyễn Thái D không thanh toán nợ nên khoản vay theo các hợp đồng nêu trên đã quá hạn, mặc dù Ngân hàng TMCP Q2 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện nhưng ông Nguyễn Thái D vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Như vậy, ông Nguyễn Thái D đã vi phạm các thỏa thuận, cam kết trong các hợp đồng cho vay ký với Ngân hàng TMCP Q.
Để xử lý khoản nợ trên theo quy định pháp luật, Ngân hàng TMCP Q đã hoàn thành các thủ tục gửi thông báo thu hồi nợ, thông báo thu giữ và niêm yết công khai việc thu giữ tài sản để xử lý nợ vay tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận A. Ngày 28/10/2021 dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phương, Ngân hàng TMCP Q đã tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là nhà đất tại địa chỉ D V, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý nợ. Theo đó ngày 15/11/2021 Ngân hàng TMCP Q ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với Công ty Đ đưa tài sản ra bán đấu giá theo quy định. Ngày 15/4/2022 công ty B tổ chức bán đấu giá thành công với giá 4.933.000.000 đồng. Sau khi trừ đi các chi phí bán đấu giá, số tiền Ngân hàng TMCP Q thu được từ sản bán đấu giá thành là 4.673.012.340 đồng. Ngân hàng TMCP Q đã tiến hành hạch toán thu toàn bộ nợ gốc 3.000.000.000 đồng của khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 và các phụ lục hợp đồng sửa đổi bổ sung; thu số tiền gốc 1.673.012.340 đồng cho Hợp đồng tín dụng số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021. Như vậy số tiền thu nợ được trong quá trình thực hiện xử lý tài sản là 4.673.012.340 đồng nợ gốc. Hiện tại khoản vay không còn tài sản bảo đảm.
Tạm tính đến đến ngày 09/09/2024, ông Nguyễn Thái D nợ Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là 991.852.339 đồng của 2 hợp đồng tín dụng, bao gồm:
- + Nợ gốc: 156.987.660 đồng;
- + Nợ lãi trong hạn: 578.749.498 đồng;
- + Nợ lãi quá hạn: 86.180.690 đồng;
- + Nợ lãi chậm trả lãi: 169.934.492 đồng;
Nay Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông Nguyễn Thái D thanh toán nợ cho ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/9/2024 là: 991.852.339 đồng, trong đó nợ gốc là: 156.987.660 đồng, nợ lãi là: 834.864.679 đồng.
Và các khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 10/9/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Phụ lục Hợp đồng cho vay số 01/PLHĐ/425/20/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021; Hợp đồng cho vay 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021 và các khế ước nhận nợ ông D ký với ngân hàng, cho đến khi ông D thanh toán hết toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng.
Nếu ông D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành xác minh, kê biên tài sản của ông D để phát mãi thu hồi toàn bộ khoản nợ vay.
Buộc ông Nguyễn Thái D phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí, phí thi hành án, chi phí phát sinh liên quan.
Ngân hàng TMCP Q tự nguyện chịu chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và đã thực hiện xong.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng, thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thái D phải trả tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 và Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021. Đây là quan hệ pháp luật
“Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Nguyễn Thái D có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: 1 đường H, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đơn khởi kiện ngân hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông Nguyễn Thái D tại địa chỉ trên. Theo kết quả xác minh của Công an phường H, Quận A thì: Đương sự Nguyễn Thái D có hộ khẩu thường trú địa chỉ: 1 tổ F, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đương sự Nguyễn Thái D đã bán nhà và đi khỏi địa phương từ năm 2017 đến nay không rõ ở đâu và làm gì.
Như vậy, ông Nguyễn Thái D thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, trốn tránh nghĩa vụ đối với Ngân hàng TMCP Q do đó Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Xét về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về chứng cứ:
Tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
Tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Bị đơn ông Nguyễn Thái D được thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến tòa để trình bày, cung cấp chứng cứ. Do đó, việc ông D không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo thủ tục chung, mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình và giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q:
Về hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Phụ lục Hợp đồng cho vay số 01/PLHD/425/20/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 thể hiện ông Nguyễn Thái D được Ngân hàng TMCP Q cho vay số tiền 3.000.000.000 đồng.
- + Thời hạn vay: 300 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân.
- + Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua bất động sản tại địa chỉ D V, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021; Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/27/21/HĐCV-9317 ngày 13/01/2021 thể hiện ông Nguyễn Thái D được Ngân hàng TMCP Q cho vay số tiền 1.830.000.000 đồng.
- + Thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân.
- + Mục đích sử dụng vốn vay: Vay thanh toán tiền sửa chữa BĐS tại địa chỉ D V, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Thái D được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được lập thành văn bản, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ theo quy định tại các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung đã thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông D không thực hiện việc thanh toán tiền gốc, lãi theo đúng thỏa thuận đã ký kết giữa các bên là vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Điều 8 của Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 và vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, Điều 8 của Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/27/21/HĐCV-9317 ngày 13/01/2021.
Để xử lý khoản nợ trên theo quy định pháp luật, Ngân hàng TMCP Q đã thu giữ tài sản thế chấp và tổ chức bán đấu giá tài sản bảo đảm là nhà đất tại địa chỉ D V, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý nợ. Sau khi trừ đi các chi phí bán đấu giá, số tiền Ngân hàng TMCP Q thu được từ sản bán đấu giá thành là 4.673.012.340 đồng. Ngân hàng TMCP Q đã tiến hành hạch toán thu toàn bộ nợ gốc 3.000.000.000 đồng của khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 và các phụ lục hợp đồng sửa đổi bổ sung; thu số tiền gốc 1.673.012.340 đồng cho Hợp đồng tín dụng số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, số tiền gốc còn lại là 156.987.660 đồng. Hiện tại khoản vay không còn tài sản bảo đảm.
Về tiền lãi:
Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Phụ lục Hợp
đồng cho vay số 01/PLHD/425/20/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Lãi suất vay:
- • Lãi suất kỳ đầu tiên: Lãi suất vay trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân là: 10.5%/năm.
- • Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) 3.9%/năm. Lãi suất cơ sở được Ngân hàng TMCP Q ban hành theo từng thời kỳ.
- + Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, được áp dụng với nợ gốc quá hạn (bao gồm cả nợ gốc quá hạn trong trường hợp phải trả nợ trước hạn).
- + Lãi chậm trả lãi: Nếu chậm trả lãi thì phải trả lãi chậm trả lãi với lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi chậm trả lãi được tính trên cơ sở số tiền lãi phải trả nhưng chưa trả, lãi suất chậm trả lãi, số ngày chậm trả lãi.
Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021; Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/27/21/HĐCV-9317 ngày 13/01/2021, Lãi suất vay:
- • Lãi suất kỳ đầu tiên: Lãi suất vay trong vòng 03 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân là: 12.5%/năm.
- • Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) 4.2%/năm. Lãi suất cơ sở được Ngân hàng TMCP Q ban hành theo từng thời kỳ.
- + Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, được áp dụng với nợ gốc quá hạn (bao gồm cả nợ gốc quá hạn trong trường hợp phải trả nợ trước hạn).
- + Lãi chậm trả lãi: Nếu chậm trả lãi thì phải trả lãi chậm trả lãi với lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi chậm trả lãi được tính trên cơ sở số tiền lãi phải trả nhưng chưa trả, lãi suất chậm trả lãi, số ngày chậm trả lãi.
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; tại khoản 2 Điều 11, Quy chế ban hành kèm theo Quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 quy định: “Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận đối với khách hàng trong Hợp đồng tín dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định: “Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa
thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn” và căn cứ Điều 463, 465, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Như vậy, đối với lãi suất mà ngân hàng áp dụng đối với Hợp đồng tín dụng ký kết với ông D cũng như bản giải trình về tính lãi mà Ngân hàng xuất trình là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ngân hàng buộc ông D phải trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/9/2024 là:
Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 tổng số tiền nợ là: 444.834.869 đồng, trong đó, số tiền gốc: 0 đồng, lãi trong hạn: 340.177.337 đồng, lãi quá hạn: 5.835.989 đồng, phạt chậm trả: 98.821.543 đồng.
Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021 tổng số tiền nợ là: 547.017.471 đồng, trong đó, số tiền gốc: 156.987.660 đồng, lãi trong hạn: 238.572.161 đồng, lãi quá hạn: 80.344.701 đồng, phạt chậm trả: 71.112.949 đồng.
Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng:
Ngân hàng TMCP Q tự nguyện chịu chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và đã thực hiện xong.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền tạm ứng án phí là 17.611.707 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0004662 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn ông Nguyễn Thái D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 41.755.570 đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, 35, 40, 144, 147, 157, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 317, 318, 319, 463, 465, 466, 468, 500, 501 và 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 91, 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q.
Buộc ông Nguyễn Thái D phải thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền còn nợ tính đến ngày 09/9/2024 theo Hợp đồng cho vay số 425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021, Phụ lục Hợp đồng cho vay số 01/PLHĐ/425/20/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/425/20/HĐCV-9317 ngày 05/01/2021 và Hợp đồng cho vay số 27/21/HĐCV-9317 ngày 12/01/2021, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/27/21/HĐCV-9317 ngày 13/01/2021 là: 991.852.339 (chín trăm chín mươi mốt triệu tám trăm năm mươi hai nghìn ba trăm ba mươi chín) đồng, trong đó: nợ gốc là: 156.987.660 (một trăm năm mươi sáu triệu chín trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi) đồng, nợ lãi trong hạn là: 578.749.498 (năm trăm bảy mươi tám triệu bảy trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm chín mươi tám) đồng, nợ lãi quá hạn là: 86.180.690 (tám mươi sáu triệu một trăm tám mươi nghìn sáu trăm chín mươi) đồng, nợ lãi chậm trả lãi là: 169.934.492 (một trăm sáu mươi chín triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm chín mươi hai) đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Thái D còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký kết. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thái D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 41.755.570 (bốn mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm bảy mươi) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền tạm ứng án phí là 17.611.707 (mười bảy triệu sáu trăm mười một nghìn bảy trăm lẻ bảy) đồng, theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0004662 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ngân |
Bản án số 609/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 609/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
