TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Số: 608/2024/HS-ST
Ngày: 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Ông Phạm Bá Chương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:
Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 528/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 614/2024/QĐXXST–HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Trà Hoàng P, sinh năm: 2002 tại tỉnh Gia Lai; thường trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trà Hoàng H và bà Bùi Thị H1; chưa có vợ con; tiền án: - Bản án số 370/2021/HS-ST ngày 29/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2023, thi hành xong án phí ngày 26/4/2022; tiền sự: không có; nhân thân: - Ngày 31/12/2019, Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai xử phạt 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đóng phạt ngày 02/01/2020; - Bản án số 25/2020/HS-ST ngày 01/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/3/2021, thi hành xong án phí ngày 16/10/2020; bị bắt, tạm giam ngày: 08/02/2024 (có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH Một thành viên C.
Địa chỉ: H - H H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoài A, sinh năm: 1993 (Văn bản ủy quyền số 45/2024/GUQ-TP ngày 28/11/2024. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh Phúc N, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Trà Hoàng P trước đây là nhân viên bốc xếp tại kho P1 tại số A Tỉnh lộ 43, khu phố B, phường B, thành phố T. Cuối năm 2023, kho dọn sang địa điểm mới, nên P lấy remote điều khiển cửa cuốn để mở cửa dọn kho và giữ luôn không trả lại cho quản lý. Sau khi kho Phúc Long dọn đi thì Bưu cục J&T, thuộc Công ty TNHH Một thành viên C (viết tắt là Công ty C), dọn đến địa điểm này. Vì cần tiền tiêu xài nên P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại Bưu cục J.
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, P mang theo remote đi bộ một mình đến Bưu cục. P dùng remote mở khoảng 1/2 cánh cửa cuốn, ngắt cầu dao điện để vô hiệu hóa camera, vào trong lục tìm và lấy 4 bó tiền trong ngăn bàn làm việc bằng gỗ, có cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa, nơi nhân viên bưu cục thường ngồi làm việc. P lấy tất cả 04 bó tiền bỏ vào 01 túi nylon lấy gần đó rồi đi ra ngoài. P mở cầu dao điện lên, dùng remote bấm hạ cửa cuốn xuống như ban đầu rồi mang túi tiền chiếm đoạt được về phòng trọ. Sau khi về phòng trọ, P lấy tiền ra, phân loại theo mệnh giá tiền và đếm thì xác định 04 bó tiền Phong lấy có 236.000.000 đồng, gồm các tờ tiền có mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng và 2.000.000 đồng, gồm các loại tiền có mệnh giá từ 1.000 đồng đến 20.000 đồng; tổng cộng là 238.000.000 đồng.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, P đến phòng trọ của mẹ là bà Bùi Thị H1 tại xã B, quận B. Tại đây, P lấy cho bà H1 một xấp tiền (P khai khoảng 15.000.000 đồng, quá trình điều tra bà H1 xác định chính xác là 17.500.000 đồng, gồm nhiều mệnh giá tiền khác nhau). Số tiền còn lại P bỏ vào túi và ở tại phòng trọ của bà H1. Qua ngày 30/01/2024, P để 50.000.000 đồng cất trên gác phòng trọ của bà H1 rồi mang theo quần áo và số tiền còn lại 170.500.000 đồng rời khỏi phòng trọ. Trên đường đi, P ghé vào 01 tiệm điện thoại không rõ địa chỉ thuộc quận B nhờ chuyển khoản 20.000.000 đồng để trả nợ khoản vay trước đó. Sau đó, P đến một tiệm điện thoại không nhớ địa chỉ, mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max hết 10.000.000 đồng. P ra thuê nhà nghỉ không rõ địa chỉ ở quận B ở đến tối ngày 01/02/2024, thì đón xe về nhà tại Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, lấy thêm quần áo rồi đi liền sau đó. Ngày 02/02/2024, P đi xe khách từ N ra Hà Nội. Khi đến huyện V, nhà xe yêu cầu trả tiền xe thì P phát hiện số tiền khoảng 130.000.000 đồng trong ba lô đã bị mất, không có tiền trả tiền xe nên P phải xuống xe và sống lang thang tại địa phương này. Ngày 04/02/2024, P cầm chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max cho ông Huỳnh Phúc N là chủ tiệm cầm đồ ở huyện V để lấy 5.000.000 đồng.
Ngày 06/02/2024, khi đang ngủ ở quán nước ven đường, P thấy ông Lương Đức K bị ngã xe, thương tích nên đã sử dụng xe của ông K chở ông K đến Trung tâm y tế. Do cần phương tiện đi lại nên lúc bảo vệ yêu cầu đưa xe vào nhà xe thì P lấy
chìa khóa để di chuyển xe rồi lợi dụng chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 79V1-504.85 của ông K. Vì xe hư hỏng sau vụ tai nạn nên P đem xe đi sửa, lúc tiệm sửa xe đông người và không ai để ý, P tiếp tục trộm chiếc điện thoại S loại Galaxy S20Fe màu xanh dương của ông Đặng Thanh T đang để sạc trên ghế tại tiệm sửa xe. Khi P rời đi, T nghi ngờ và đuổi theo và bắt được P.
Tại Cơ quan điều tra, Trà Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bưu cục J&T trình báo số tiền bị mất là 347.864.000 đồng do căn cứ bảng thống kê số tiền thu được và theo danh sách file gửi lên nhóm làm việc, tuy nhiên không có việc bàn giao, ký nhận số tiền đưa vào. Theo tin nhắn giữa P và bà Bùi Thị H1 (mẹ P), cũng như lời khai cụ thể của P thì có căn cứ xác định số tiền Phong chiếm đoạt được của Bưu cục J&T là 238.000.000.
Đối với hành vi của Trà Hoàng P chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 79V1-504.85 của ông Lương Đức K và điện thoại Samsung loại Galaxy S20Fe của ông Đặng Thanh T tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Cơ quan điều tra huyện V, tỉnh Khánh Hòa đã ban hành quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Vật chứng vụ án:
- Số tiền 65.000.000 đồng do bà Bùi Thị H1 giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên C.
- 01 đôi dép da, size 40, trên dép có chữ “Giày dép Thanh Toản – sản phẩm được bảo hành”.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A74 (đã qua sử dụng, không kiểm tra được I).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, 128GB màu xanh, số I: 351572599681296 (số I thể hiện trên khe sim).
Về trách nhiệm dân sự:
- Công ty TNHH Một thành viên C yêu cầu Trà Hoàng P bồi thường số tiền còn lại là 282.864.000 đồng.
- Ông Huỳnh Phúc N yêu cầu Trà Hoàng P trả lại số tiền 5.000.000 đồng, bằng với số tiền ông N nhận cầm điện thoại Iphone 12 Pro Max cho P.
Tại Bản Cáo trạng số 495/CT-VKSTPTĐ ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Trà Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trà Hoàng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Công ty TNHH Một thành viên C có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Hoài A trình bày:
Do Bưu cục J&T không có giấy tờ, biên bản bàn giao tiền nên nay tại phiên
tòa, Công ty TNHH Một thành viên C chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 238.000.000 đồng. Bị cáo dùng số tiền lấy trộm của công ty mua điện thoại di động hiệu Iphone 12 P, Cơ quan điều tra đã thu giữ điện thoại, nay Công ty C đồng ý nhận điện thoại này với giá trị là 8.000.000 đồng để khắc phục một phần thiệt hại. Đồng thời, tại Cơ quan điều tra, công ty đã nhận lại số tiền 65.000.000 đồng, do vậy yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 165.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trà Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173, đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trà Hoàng P phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, tại Bưu cục J&T, thuộc Công ty TNHH Một thành viên C, tại địa chỉ số A Tỉnh lộ 43, khu phố B, phường B, thành phố T, bị cáo Trà Hoàng P dùng remote giữ từ trước đó, mở cửa cuốn lẻn vào, ngắt cầu dao vô hiệu hóa camera, lục tìm và lấy được số tiền 238.000.000 đồng trong hộc bàn. Sau khi lấy tiền, bị cáo cho mẹ là bà Bùi Thị H1 17.500.000 đồng, để lại phòng trọ của bà H1 50.000.000 đồng. Bị cáo đem số tiền còn lại 170.500.000 đồng trả nợ và tiêu xài, còn lại khoảng 130.000.000 đồng thì bị mất. Khi đến huyện V, tỉnh Khánh Hòa, bị cáo tiếp tục phạm tội thì bị bắt giữ, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trà Hoàng P phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Theo trình báo của Bưu cục J&T thuộc Công ty TNHH Một thành viên C thì số tiền bị mất là 347.864.000 đồng, theo danh sách file gửi lên nhóm làm việc, tuy nhiên số tiền bị mất để trong hộc bàn không khóa, không có việc bàn giao, ký nhận; bên cạnh đó theo tin nhắn giữa bị cáo và mẹ là bà Bùi Thị H1 cũng như lời khai của bị cáo thì có căn cứ xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt được của Công ty C là 238.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Bị cáo lén lút chiếm đoạt của bị hại số tiền là 238.000.000 đồng. Do đó, cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số 370/2021/HS-ST ngày 29/9/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với ông Huỳnh Phúc N khi nhận cầm điện thoại của bị cáo thì không biết điện thoại do bị cáo sử dụng tiền trộm cắp để mua nên không có căn cứ xử lý.
Đối với bà Bùi Thị H1 không biết số tiền bị cáo cho sử dụng và để lại phòng trọ là tiền do bị cáo trộm cắp nên không có căn cứ xử lý.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
- Tại phiên tòa, Công ty TNHH Một thành viên C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 238.000.000 đồng.
- + Bị cáo dùng tiền lấy trộm của Công ty C mua điện thoại di động Iphone 12 Pro Max. Nay, công ty và bị cáo thống nhất công ty nhận lại điện thoại Iphone 12 Pro Max với mức giá là 8.000.000 đồng để trừ vào số tiền mà bị cáo phải bồi thường.
- + Tại Cơ quan điều tra, Công ty C đã nhận lại số tiền 65.000.000 đồng.
Do vậy, số tiền còn lại mà bị cáo phải bồi thường là 165.000.000 đồng, xét đây là yêu cầu hợp pháp, có căn cứ và bị cáo đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường.
Ông Huỳnh Phúc N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 5.000.000 đồng, xét thấy ông N nhận cầm điện thoại Iphone 12 Pro Max không biết là điện thoại do phạm tội mà có, ông N đã nộp lại điện thoại do đó yêu cầu của ông N là có căn cứ nên được chấp nhận, bị cáo cũng đồng ý trả số tiền này cho ông N.
[4.]. Về xử lý vật chứng:
- 01 đôi dép da, size 40, trên dép có chữ “Giày dép Thanh Toản – sản phẩm được bảo hành”. Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A74 (đã qua sử dụng, không kiểm tra được I). Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, 128GB màu xanh, số I: 351572599681296 (số I thể hiện trên khe sim). Giao cho Công ty TNHH Một thành viên C được quyền sở hữu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trà Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trà Hoàng P 08 (T1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024.
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
+ Buộc bị cáo Trà Hoàng P có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH Một thành viên C số tiền 165.000.000 (Một trăm sáu mươi lăm triệu) đồng.
+ Buộc bị cáo Trà Hoàng P có trách nhiệm trả cho ông Huỳnh Phúc N số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép da, size 40, trên dép có chữ “Giày dép Thanh Toản – sản phẩm được bảo hành”.
+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A74 (đã qua sử dụng, không kiểm tra được I).
+ Giao cho Công ty TNHH Một thành viên C sở hữu: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, 128GB màu xanh, số I: 351572599681296 (số I thể hiện trên khe sim).
(Theo Phiếu nhập kho số NK25/025 ngày 15/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.250.000 (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND TP. HCM;
- - VKSND TP. HCM;
- - Sở Tư pháp TP. HCM;
- - VKSND TP. Thủ Đức;
- - Cơ quan CSĐT CA TP. Thủ Đức;
- - Nhà tạm giữ CA TP. Thủ Đức;
- - Cơ quan THAHS CA TP. Thủ Đức;
- - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
- - Bị cáo;
- - Bị hại; NQLNVLQ;
- - Lưu: HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Hồng Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 608/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 608/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội cướp giật tài sản, xử phạt 08 năm tù
