Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 608/2024/HC-PT

Ngày: 20/6/2024

V/v: Khiếu kiện QĐHC về QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, GPMB, TĐC và giải quyết khiếu nại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Ngô Đức Thọ

2/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 802/2023/TLPT-HC ngày 06/11/2023, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ GPMB, TĐC và giải quyết khiếu nại”, giữa các bên đương sự:

Người khởi kiện: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1974; Địa chỉ: số A H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Quang T, sinh năm 1953; Địa chỉ: 2 V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Võ Văn T1, Công ty L3, Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: 2 V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch và UBND thành phố T: Ông Võ Chí T2, Phó chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương (Có văn bản xin xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh B: Ông Mai Hùng D, Phó chủ tịch UBND tỉnh B (Có văn bản xin xử vắng mặt).

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị M, sinh năm 1974 và bà Huỳnh Thị Quế T3, sinh năm 1999; Cùng địa chỉ: Số A H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (là vợ, con ông Huỳnh Văn L, Có văn bản xin xử vắng mặt).

Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn L là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía người khởi kiện trình bày:

Ông L khởi kiện Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L đối với Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T (lần 1).

Lý do khởi kiện: Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B có nội dung mang tính áp đặt, không khách quan, không đúng bản chất vụ việc, vi phạm trình tự, thủ tục của Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông L.

Chủ tịch UBND tỉnh B chưa làm rõ các nội dung khiếu nại của người khởi kiện tại Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T, cụ thể sau:

  1. Diện tích đất gia đình ông L đang quản lý, sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có nguồn gốc từ thời ông cha ông L, tính đến nay hàng trăm năm, trong khi đường H trước đây là đường đất, được Nhà nước mở rộng, nâng cấp nhiều lần nhưng UBND thành phố T, lấy lý do đất của ông L thu hồi làm đường thuộc hành lang đường bộ nên không bồi thường, là trái với Điều 94 Luật Đất đai năm 2013.
  2. Tại Quyết định thu hồi đất số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T thu hồi đất của ông L là 7,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00224/CNQSDĐ/H ngày 09/7/2001 do UBND thành phố T cấp, để Dự án đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là không đúng sự thật vì diện tích đất thực tế bị thu hồi làm dự án là 124m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00224/CNQSDĐ/H ngày 09/7/2001.
  3. Quyết định thu hồi đất số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố Thủ Dầu Một thu hồi đất của cá nhân nhưng UBND thành phố T lại không ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với cá nhân người bị thu hồi đất, là trái với quy định tại khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.

Đến nay, ông L vẫn chưa nhận được Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND thành phố T được quy định tại tiết b khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai.

  1. Biên bản đo đạc, kiểm đếm số 46T/BBĐĐKD ngày 13/02/2020 của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố T không đảm bảo tính pháp lý, vi phạm nguyên tắc trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, vì người không có tên trong Biên bản đo đạc lại ký tên trong Biên bản đo đạc, kiểm đếm.
  2. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng không tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức trực tiếp với người dân có đất bị thu hồi và việc lấy ý kiến được lập thành văn bản, là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai.
  3. Việc áp giá bồi thường đối với phần đất bị thu hồi làm đường áp giá 23.780.000đồng/m² là quá thấp, không phù hợp với thực tế, vì giá đất trong khu vực thời điểm đó trên 55.000.000đồng/m², gây thiệt hại rất lớn đến quyền lợi chính đáng của người bị thu hồi đất.
  4. Trong Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B (trang 5) có nêu Dự án vỉa hè đường Huỳnh Văn L1 kết thúc từ năm 2004 nhưng đến năm 2020, UBND thành phố T mới ban hành Quyết định thu hồi đất, là thực hiện theo quy trình ngược, không đúng với quy định tại Điều 69 Luật Đất đai.
  5. Khi Tổ công tác của Thanh tra tỉnh Bình Dương được giao làm nhiệm vụ kiểm tra, xác minh khiếu nại lần 2, trong khi kết quả xác minh khác với thông tin, tài liệu chứng cứ do người khiếu nại, người bị khiếu nại cung cấp nhưng Tổ công tác không xuống hiện trường gặp gỡ người khiếu nại, tiến hành đo đạc, xác định diện tích đất bị thu hồi, kiểm tra trình tự, thủ tục khi ban hành các quyết định hành chính là vi phạm với Điều 25 Nghị định 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.

Từ những căn cứ nêu trên, ông L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử theo hướng: Tuyên hủy Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B về giải quyết khiếu nại lần 2 và Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về giải quyết khiếu nại lần đầu; Tuyên hủy Quyết định số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T về việc thu hồi đất của ông Huỳnh Văn L và Quyết định 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T về phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ, tái định cư không phải cho cá nhân người bị thu hồi đất và đến nay Quyết định trên vẫn chưa giao cho người bị thu hồi đất; Buộc UBND thành phố T phải thực hiện hành vi công vụ theo quy định pháp luật trong lĩnh vực đất đai về việc thu hồi đất của ông L với giá 55.000.000đồng/m².

Riêng Quyết định số 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T về phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ, tái định cư không phải cho cá nhân người bị thu hồi đất và đến nay Quyết định trên vẫn chưa giao cho người bị thu hồi đất (chỉ giao cho những ai đồng ý nhận tiền bồi thường).

Theo văn bản và lời khai của phía người bị kiện UBND thành phố T và Chủ tịch UBND thành phố T trình bày:

1/ Về Quyết định thu hồi đất số 3785/QĐ-UBND, Quyết định phê duyệt Phương án, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố:

Căn cứ Quyết định số 1629/QĐ-CT ngày 17/5/2001 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt dự án đầu tư, công trình: Nâng cấp mở rộng đường ĐT 742 (Km 5+000 (từ đường T) đến km 11+258) và xây dựng mới cầu T, cầu T thuộc huyện T, tỉnh Bình Dương trong đó có nội dung: “Phương án giải phóng mặt bằng bảo đảm đủ mặt bằng xây dựng công trình tính từ tim đường thiết kế giải tỏa mỗi bên 9m, không tính chi phí đền bù về đất” và “Thiết kế sơ bộ phần đường: Nền đường 10m (trong đó mặt đường rộng 7m; lề đường rộng 1,5m x 2 bên”.

Ngày 16/7/2001, UBND tỉnh B ban hành Thông báo số 165/TB.UB về việc giải phóng mặt bằng để thi công công trình; Quyết định số 5184/QĐ-CT ngày 29/10/2001 về việc quy định chủ trương đền bù thiệt hại về đất và tài sản trên đất công trình Nâng cấp, mở rộng đường ĐT 742 đoạn từ Km 5+000 đến km 11+258 thuộc xã P, huyện T, tỉnh Bình Dương trong đó có nội dung quy định: “Các đoạn đường bám theo tuyến cũ có phạm vi giải tỏa để mở rộng đường nằm trong HLBVĐB quy định, không tính đền bù đất” và Quyết định số 7507/QĐ-CT ngày 03/12/2001 về việc phê duyệt kinh phí đền bù công trình Nâng cấp mở rộng đường ĐT 742 (Km 5+000 (từ đường T) đến km 11-258) thuộc xã P, thị xã T và xã P, huyện T, tỉnh Bình Dương, quy định về HLBVĐB của tuyến đường ĐT 742 qua địa bàn phường P, thị xã T (theo phê duyệt là đường loại 3), được xác lập theo Điều 6, Quyết định số 51/QĐ-UB ngày 11/02/1991 của UBND tỉnh S, theo đó HLBVĐB là 10m.

Căn cứ Quyết định số 183/2003/QĐ-UBND ngày 17/7/2003 của UBND tỉnh thì HLBVĐB của Dự án năm 2004 được xác định là 21m tính từ tim đường trở ra 02 bên, do chiều dài tuyến được phê duyệt có khoảng cách nằm trong tuyến đường ĐT 742 đoạn từ Km3 + 500 (hết nội ô thị xã T) đến giáp ĐT 747 gần ngã ba cổng X.

Qua kiểm tra hồ sơ bồi thường của Dự án năm 2004 thể hiện: Thực tế việc bồi thường đã kết thúc hoàn tất hồ sơ vào năm 2004, không bồi thường về đất trong phạm vi giải tỏa 15m tính từ tim đường, do được xác định là đất HLBVĐB. Theo đó, cơ quan Nhà nước đã tổ chức thi công, hoàn thiện thực tế, nghiệm thu sử dụng tuyến đường với tổng phạm vi nền đường là 24m, tính từ tim đường ra mỗi bên 12m (gồm 8m mặt đường, 4m lề đường); đồng thời cập nhật, xác lập HLBVĐB là 15m mỗi bên tính từ tim đường. Riêng phần lề đường 4m được trải sỏi đỏ, lu lèn; quá trình sử dụng từ năm 2004 đến nay một số hộ dân có hành vi lấn chiếm sử dụng trong phạm vi đất lề đường.

Tại thời điểm thực hiện Dự án năm 2004 được phê duyệt tại Quyết định số 5241/QĐ-CT ngày 12/07/2004 của UBND tỉnh thì phạm vi giải tỏa 15m tính từ tim đường nằm toàn bộ trọng phạm vi đất HLBVĐB 21m xác lập theo Quyết định số 183/2003/QĐ-UBND của UBND tỉnh; do đó việc không bồi thường phần đất của các hộ dân bị thu hồi thuộc phạm vi giải tỏa của Dự án năm 2004 phù hợp quy định pháp luật.

Sau khi kết thúc bồi thường Dự án năm 2004, ông Huỳnh Văn L được UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00224/CNQSDĐ/H ngày 09/7/2001, thể hiện phần đường Huỳnh Văn L1 đã thi công có chỉ giới đường đỏ là 15m tính từ tim đường và không được công nhận phần diện tích nằm trong phạm vi này.

Thực hiện Dự án Vỉa hè, ngày 13/02/2020, Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố T lập Biên bản đo đạc, kiểm đếm số 46T/BBĐĐKĐ đối với đất và tài sản trên đất của ông Huỳnh Văn L.

Ngày 27/02/2020, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 364/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát đo đạc, kiểm đếm dự án Đầu tư, vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Ngày 03/4/2020, UBND thành phố ban hành Thông báo số 917/TB-UBND về việc thu hồi đất của ông Huỳnh Văn L với diện tích đất dự kiến thu hồi là 7,4m² đất nông nghiệp.

Ngày 23/9/2020, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2824/QĐ- UBND về việc phê duyệt đơn giá đất để bồi thường thực hiện dự án đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H, thành phố T.

Ngày 20/11/2020, Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố T lập Bảng áp giá số 46T/BAG-VHHVL để áp giá, bồi thường cho ông Huỳnh Văn L, tổng bồi thường số tiền là 307.052.494đồng, cụ thể: Bồi thường về đất: 7,4m² x 23.780.000đồng/m² = 175.972.000đồng (bồi thường đất HLBVĐB theo đơn giá đất nông nghiệp); Bồi thường, hỗ trợ công trình xây dựng là 114.075.640đồng; Bồi thường về công trình phụ, vật kiến trúc là: 17.004.854đồng.

Ngày 04/11/2020, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 3283/QĐ-UBND về việc phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng công trình đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H, theo đó quy mô thực hiện từ tim đường H ra mỗi bên 12,5m.

Ngày 22/12/2020, UBND thành phố ban hành Quyết định số 3785/QĐ-UBND về việc thu hồi 7,4m² đất thể hiện là đất hành lang bảo vệ an toàn đường Huỳnh Văn L1 thuộc một phần thửa 96 (340), tờ bản đồ 06 (BĐCQ mới tờ 06-6) tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Quyết định số 3623/QĐ-UBND về việc phê duyệt Phương án, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 1) của dự án, trong đó có trường hợp của ông Huỳnh Văn L được nhận tổng số tiền bồi thường: 307.052.494đồng.

Từ cơ sở nêu trên, việc UBND thành phố ban hành Quyết định thu hồi đất số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 là đúng theo khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và Quyết định phê duyệt Phương án, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 là đúng theo khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.

2/ Về nội dung yêu cầu bồi thường về đất với đơn giá 55.000.000đồng/m², là không có cơ sở xem xét, giải quyết, bởi vì: Căn cứ Điều 7 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh về trình tự, thủ tục bồi thường hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Bình Dương: “Giá đất để tính bồi thường là giá đất cụ thể theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, được UBND tỉnh quyết định đối với từng dự án...”,

Công văn số 3634/UBND-KTN ngày 07/8/2018 của UBND tỉnh về việc xử lý vấn đề liên quan đến bồi thường đất HLBVĐB cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Quyết định số 2824/QĐ-UBND ngày 23/9/2020 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đơn giá đất để bồi thường thực hiện Dự án Vỉa hè, việc UBND thành phố T bồi thường về đất cho ông Huỳnh Văn L theo đơn giá 23.780.000đồng/m² là đúng quy định pháp luật.

3/ Về Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B về giải quyết khiếu nại (lần hai):

Theo thẩm quyền Chủ tịch UBND thành phố T và Chủ tịch UBND tỉnh B đã thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo luật định, về nội dung căn cứ vào thực tế sử dụng đất và căn cứ quy định pháp luật đã không chấp nhận khiếu nại của ông L là phù hợp.

Phía người bị kiện đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông L.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 37/2023/HC-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, đã tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L, về việc đòi hủy các quyết định hành chính sau:

  • Quyết định số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương về việc thu hồi đất của hộ ông Huỳnh Văn L tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • Quyết định số 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án: Đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường Huỳnh Văn L1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (đợt 1) đối với phần liên quan đến hộ ông Huỳnh Văn L và yêu cầu nâng giá bồi thường đất với đơn giá 55.000.000đồng/m².
  • Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L (lần đầu).
  • Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L (lần hai) đối với Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/9/2023 ông Huỳnh Văn L làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị phúc xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía người khởi kiện và người bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông L vì diện tích xác định không đúng và giá bồi thường không thỏa đáng.

Phía người bị kiện thì vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã được thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định. Về nội dung: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn L làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Đối với Quyết định số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương: Nội dung của quyết định này là thu hồi đất của hộ ông Huỳnh Văn L tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thực hiện Dự án đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H.

Đây là dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội của địa phương, phù hợp với quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013. UBND thành phố T ban hành quyết định thu hồi đất là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013.

Nguồn gốc đất bị thu hồi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 00224/CNQSDĐ/H ngày 09/7/2001, diện tích 484m² (50m² đất thổ cư; 434m² đất vườn) và có 124m² đất HLBVĐB thuộc thửa 96 (340), tờ bản đồ 06 tại phường P là do ông Huỳnh Văn L nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Văn L2 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã (nay là phường) P chứng thực ngày 11/6/2001.

Sau đó, ông L đã đăng ký và được cấp GCNQSDĐ với diện tích nêu trên. Trong đó, phần diện tích 124m² đất HLBVĐB thuộc thửa 96 (340) không thuộc diện tích đất chuyển nhượng và cũng không thuộc diện tích đất được cấp quyền sử dụng. Phần đất 124m² nằm trong HLBVĐB thuộc quản lý của Nhà nước. Vì vậy, UBND thành phố T không thu hồi và bồi thường đất thuộc HLBVĐB này cho ông L là đúng quy định của pháp luật, không gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của ông L.

Ngày 13/02/2020, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố T phối hợp với UBND phường P lập Biên bản đo đạc, kiểm đếm đất và tài sản gắn liền đất, kèm theo Sơ đồ thu hồi đất với sự tham gia của ông Huỳnh Văn L và đại diện UBND phường P, xác định tổng diện tích đất giải tỏa: 7,4m² nằm trong HLBVĐB (ngoài 124m² HLBVĐB thuộc quyền quản lý của Nhà nước), loại đất nông nghiệp trong phạm vi quyền sử dụng đất mà ông Huỳnh Văn L cấp là phù hợp với hiện trạng và GCNQSDĐ đã cấp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L cho rằng Biên bản đo đạc, kiểm đếm không đảm bảo tính pháp lý, vi phạm nguyên tắc trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật là không có căn cứ.

[2.2] Đối với Quyết định số 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:

Dự án đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (đợt 1): Trong quá trình thực hiện Dự án, UBND tỉnh B đã tổ chức thẩm định giá làm cơ sở để xác định giá đất cụ thể đối với đất nông nghiệp vị trí 1: 23.780.000đồng/m² là phù hợp với giá đất thị trường và ban hành Quyết định số 2824/QĐ-UBND ngày 23/9/2020 phê duyệt đơn giá bồi thường là phù hợp với quy định tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013.

UBND thành phố T đã áp dụng đơn giá được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 2824/QĐ-UBND ngày 23/9/2020 để bồi thường (là giá đất cụ thể và không áp dụng bảng giá đất, khung giá đất chung) là phù hợp quy định của pháp luật. Kèm theo Quyết định số 3623/QĐ-UBND là danh sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 1), trong đó có tên ông Huỳnh Văn L ở số thứ tự 188, thể hiện rõ diện tích đất, công trình trên đất và số tiền bồi thường là đã bảo đảm tính khả thi của Quyết định.

Ông Huỳnh Văn L yêu cầu nâng giá bồi thường đất với đơn giá 55.000.000đồng/m² nhưng không chứng minh được tính hợp pháp của mức giá này, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.3] Đối với Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L (lần đầu); Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L (lần hai): Được thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, xác minh khiếu nại, đối thoại với người khiếu nại và đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013; khoản 10 Điều 22, khoản 8 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các Điều 14, 15, 18, 21, 27, 29, 30, 36, 38 và 39 Luật Khiếu nại năm 2011. Nội dung và hình thức của các quyết định giải quyết khiếu nại bảo đảm đúng quy định tại các Điều 31 và 40 Luật Khiếu nại năm 2011.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía ông L kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên ông L chịu án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng Hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Luật tố tụng Hành chính năm 2015; Điều 62, Điều 66, Điều 114 và Điều 204 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 10 Điều 22, khoản 8 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Các Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 21, Điều 27, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 36, Điều 38, Điều 39 và Điều 40 Luật Khiếu nại năm 2011; Nghị quyết 326/2014/UBTVQHM của U, quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L, về việc đòi hủy các quyết định hành chính sau:

  1. Quyết định số 3785/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương về việc thu hồi đất của hộ ông Huỳnh Văn L tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Quyết định số 3623/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND thành phố T về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án: Đầu tư vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dưong (đợt 1) đối với phần liên quan đến hộ ông Huỳnh Văn L và yêu cầu nâng giá bồi thường đất với đơn giá 55.000.000 đồng/m².
  3. Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L (lần đầu).
  4. Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Huỳnh Văn L (lần hai) đối với Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 28/02/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T.

2/ Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Long chịu số tiền 300.000đồng, được trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo, theo Biên lai thu số AA/2021/0011680 ngày 28/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Như vậy, ông L nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.

3/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
  • - Các đương sự (Để thi hành).
  • - Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án, NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 608/2024/HC-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện qđhc về qlnn trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, gpmb, tđc và giải quyết khiếu nại.

  • Số bản án: 608/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện QĐHC về QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, GPMB, TĐC và giải quyết khiếu nại.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger