Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 607/2024/HS-ST

Ngày 12-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Đã mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:

627/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử sơ thẩm số: 619/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN THÁI D, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường

trú và cư trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp:

Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:

Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái B (đã chết) và bà Phạm

Thị Kim X; vợ là Nguyễn Thị Thanh T (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh;

- Ông Trần Hữu Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 627/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 619/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/7/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 1324/LTG ngày 16/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thái D là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 21 giờ 05 phút ngày 07/7/2024, D đi bộ đến khu vực giáo xứ T thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của Tí B1 (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp (ma túy đá) với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó, D cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đi đến trước nhà số C, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Thái D.

Tại Kết luận giám định số: 1402/KL-KTHS ngày 13/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,176gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 613/CT-VKSBH ngày 21/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố Nguyễn Thái D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thái D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thái D từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không bào chữa và tranh luận gì; không có ý kiến hay khiếu nại đối với Kết luận giám định số: 1402/KL-KTHS ngày 13/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
  2. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

  3. Tội danh và hình phạt:
  4. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/7/2024, tại trước nhà số C, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thái D có hành vi tàng trữ trái phép 0,176gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

    Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ nhận thức được tác hại của ma túy và những quy định cấm của pháp luật với mọi hành vi phạm tội về ma túy nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an nên Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Từ những nhận định trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

    Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  5. Về vật chứng:
  6. Đối với ma tuý còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 1402/KL-KTHS cấm tàng trữ, mua bán nên tịch thu tiêu hủy.

  7. Đối với đối tượng Tí B1:
  8. (chưa rõ nhân thân lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

  9. Về án phí:
  10. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  11. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
  12. là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định có khối lượng 0,157gam trong gói niêm phong số: 1402/KL-KTHS ngày 13/7/2024. (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Công an TP. Biên Hòa;
  • - CC THADS TP. Biên Hòa;
  • - Phòng HSNV - CA Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 607/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 607/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái D, sinh năm 1986 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger