|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 607/2023/DS-PT Ngày 26/12/2023 |
|
|
V/v tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ, tranh chấp quyền sử dụng đất ở |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Minh Tuấn. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Xuân Điền; |
| Ông Đặng Văn Hưng. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lê Giang - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hòa - Kiểm sát viên cao cấp.
Trong các ngày 29 tháng 11 và ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2021/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2021 về “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ, tranh chấp quyền sử dụng đất ở”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12840/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Cụ Đỗ Thị T sinh năm 1921, đã chết ngày 25/02/2011;
- Bà Trương Thị Kim L sinh năm 1951; địa chỉ: Nhà số C ngõ A đường C, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Trương Mạnh H sinh năm 1953; địa chỉ: Tầng A-01-Toà nhà CTM số 299 Cầu G, quận C, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T1 sinh năm 1959; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T2 sinh năm 1962; địa chỉ: Nhà số D T, H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Bỉnh K sinh năm 1949, đã chết ngày 09/10/2014 (không có vợ con);
- Bà Trương Thị Kim L sinh năm 1951; địa chỉ: Nhà số C ngõ A đường C, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Trương Mạnh H sinh năm 1953; địa chỉ: Tầng A-01-Toà nhà CTM số 299 Cầu G, quận C, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T1 sinh năm 1959; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T2 sinh năm 1962; địa chỉ: Nhà số D T, H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bà Trương Thị Kim L sinh năm 1951; địa chỉ: Nhà số C ngõ A đường C, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Trương Mạnh H sinh năm 1953; địa chỉ: Tầng A-01-Toà nhà CTM số 299 Cầu G, quận C, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bà Trương Kim D sinh năm 1957, đã chết ngày 14/12/2007 (không có chồng con);
- Bà Trương Thị Kim L sinh năm 1951; địa chỉ: Nhà số C ngõ A đường C, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Trương Mạnh H sinh năm 1953; địa chỉ: Tầng A-01-Toà nhà CTM số 299 Cầu G, quận C, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T1 sinh năm 1959; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T2 sinh năm 1962; địa chỉ: Nhà số D T, H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T1 sinh năm 1959; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Anh T2 sinh năm 1962; địa chỉ: Nhà số D T, H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đỗ Thị T:
Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Kim L: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Anh T2: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Bỉnh K:
Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Kim L: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Anh T2: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Kim L: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trương Kim D:
Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Kim L: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Anh T2: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Anh T2: Ông Trương Mạnh Q sinh năm 1964; địa chỉ: Nhà số C, ngõ C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2007); có mặt.
- Bị đơn:
- Cụ Đinh Thị H1 sinh năm 1931, đã chết ngày 04/8/2022.
- Ông Trương Mạnh S sinh năm 1955 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bà Trương Thị H2 sinh năm 1960 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A, ngách H ngõ C phố L, phường N, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Trương Thị B sinh năm 1963 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phòng E, tập thể T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Trương Thị L1 sinh năm 1966 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A phố H, phường H, quận H, Hà Nội; có mặt.
- Bà Trương Thị Thu P sinh năm 1971 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: P, nhà C khu tập thể T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Trương Mạnh S sinh năm 1955 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bà Phạm Ngọc T3 sinh năm 1962 (là vợ của ông Trương Mạnh S); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đinh Thị H1:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố H;
- Anh Trương Thanh T4 sinh năm 1989 (là con của ông Trương Manh S1 và bà Phạm Ngọc T3); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa ngày 29/11/2023, có mặt tại phiên tòa ngày 26/12/2023.
- Anh Trương Nhật A sinh năm 1991 (là con của ông Trương Manh S1 và bà Phạm Ngọc T3); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Trương Thị H2 sinh năm 1960 (là con của cụ Đinh Thị H1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Nhà số A, ngách H ngõ C phố L, phường N, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Kim Q1 sinh năm 1955 (là chồng của bà Trương Thị H2); đã chết năm 2023 (trước khi chết đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Nhà số A, ngách H ngõ C phố L, phường N, quận C, thành phố Hà Nội).
- Bà Trương Thị B sinh năm 1963 (là con của cụ Đinh Thị H1); vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Đào Mạnh H4 sinh năm 1960 (là chồng của bà Trương Thị B); có mặt.
- Bà Trương Thị L1 sinh năm 1966 (là con của cụ Đinh Thị H1); có mặt;
- Ông Phạm Minh T5 sinh năm 1964 (chồng bà L1); có mặt;
- Bà Trương Thị Thu P sinh năm 1971 (là con của cụ Đinh Thị H1); vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- Ông Nguyễn Nam H5 sinh năm 1970 (là chồng của bà Trương Thị Thu P); vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố H: Bà Nguyễn Thị H3 - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội quận H; có mặt tại phiên tòa ngày 29/11/2023 và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa ngày 26/12/2023.
Người đại diện hợp pháp của anh Trương A T4 và anh Trương Nhật A: Bà Phạm Ngọc T3 sinh năm 1962 (là vợ của ông Trương Mạnh S); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Phòng E, tập thể T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Nhà số A phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại: P, nhà C khu tập thể T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người kháng cáo: Ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Mạnh Q là nguyên đơn; bà Phạm Ngọc T3 là bị đơn; bà Trương Thị H2, ông Trần Kim Q1, bà Trương Thị B, ông Đào Mạnh H4, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thống nhất trình bày:
Cụ Trương Đức T6 (tức Trương Văn D1) có vợ là cụ Đỗ Thị T; hai cụ có bẩy (07) người con gồm các ông, bà: Trương Bỉnh K (chết năm 2014, không có vợ con), Trương Mạnh H, Trương Kim L, Trương Kim D (chết năm 2007, không có chồng con), Trương Anh T1, Trương Anh T2, Trương Mạnh Q. Cụ T6 chết năm 1996, cụ T chết năm 2011 đều không để lại di chúc.
Nhà đất hiện đang tranh chấp có địa chỉ tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A phố M) thuộc phường B (nay là phường N), quận H, thành phố Hà Nội (sau đây viết tắt là nhà số A M, nhà số H Đoàn T).
Nguồn gốc nhà đất như sau: Năm 1954, cụ T6 cùng cụ Trương Đức D2 (là em ruột của cụ T6, đã chết năm 1983; cụ D2 có vợ là cụ Nguyễn Thị H6 và các con là Trương Thị Phương H7, Trương Thị Thanh B1, Trương Kim O, Trương Kim Y, Trương Quốc L2) và cụ Nguyễn Văn T7 mua chung của cụ Nguyễn Văn K1. Việc các cụ T7, D2, T6 mua chung có giấy tờ xác nhận việc mua bán thể hiện tại phiên tòa công khai ngày 23/12/1957 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội số 911/57. Tại hồ sơ địa bạ, thửa đất trên thuộc bằng khoán điền thổ số 1593 khu V, diện tích 167m². Khi mua nhà đất tình trạng nhà là nhà mái lá, tường che chắn tạm bợ.
Năm 1959, các cụ T7, D2, T6 đứng tên kê khai chủ sở hữu nhà tại số A M, phân định phần diện tích mỗi người sử dụng như sau: Phần của cụ T7 được 55,7m², phần của cụ D2 và cụ T6 là 111,4m²; các cụ T7, D2, T6 đã nộp toàn bộ giấy tờ chuyển nhượng cho Sở N2, nhưng do không đủ tiền nộp thuế sang tên trước bạ nên toàn bộ giấy tờ vẫn lưu tại Sở N2.
Sau khi mua nhà đất, phần diện tích của cụ D2, cụ T6 được dùng làm xưởng sản xuất kinh doanh nhuộm giấy, in ấn là cơ sở kinh doanh chung của cụ D2, cụ T6. Khoảng năm 1959, cụ Trương Văn N (là em ruột cụ T6, cụ D2) ở T có đưa vợ là cụ Đinh Thị H1 lên ở nhờ để chữa bệnh.
Năm 1962, cụ D2, cụ T6 xây lại ngôi nhà mái tôn trên phần diện tích đất của hai cụ là 111,4m² thành 03 gian liền kề lợp ngói và phân chia diện tích sử dụng: Phần chia cho gia đình cụ T6 gồm 01 gian đầu hồi 25m² và gian cuối 34m² (hai gian này là phần nhà đất hiện đang có tranh chấp). Cụ D2 sử dụng gian giữa 28m² (hiện cụ H6 và các con đang sử dụng; đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở với diện tích 31,85m², các bên không tranh chấp gì về phần diện tích nhà đất này). Công trình phụ và gian bếp sử dụng chung là 24m² nằm phía cuối thửa đất, đi qua diện tích 55,7m² của cụ T7.
Sau khi xây dựng ba (03) gian nhà ngói xong, cụ D2, cụ T6 vẫn dùng làm nơi sản xuất nên gia đình nguyên đơn không thường xuyên ở đó mà ở nhờ tại nhà cụ Đinh Thị M (là mẹ của cụ T) tại số F L, thành phố Hà Nội, chỉ có cụ T6 làm việc và ngủ tại xưởng. Cụ N, cụ H1 vẫn tiếp tục ở nhờ tại hai (02) gian nhà mới xây.
Năm 1983, cụ D2 chết, tổ sản xuất giải tán. Gia đình cụ T6 nhiều lần yêu cầu cụ N, cụ H1 thu xếp chỗ ở mới, trả nhà cho nguyên đơn để lấy chỗ ở nhưng cụ N, cụ H1 khất lần không trả.
Năm 1985, do thường xuyên xảy ra xích mích với gia đình cụ T7 về lối đi lại sang bếp và công trình phụ nên cụ T6 và vợ cụ N là cụ H6 đã chuyển nhượng phần bếp và công trình phụ cho ông C là con của cụ T7. Nay phần nhà đất cụ T7 được phân chia lúc ban đầu giữa các cụ và một phần diện tích đất ông Công nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, các bên không có tranh chấp gì về việc chuyển nhượng đất này cũng như phần diện tích đất mà gia đình cụ T7 đang quản lý, sử dụng.
Năm 1992, ông Trương Mạnh S là con của cụ N, cụ H1 đã tự ý phá dỡ gian nhà 34m² mái ngói xây dựng thành nhà ba (03) tầng trái phép; sửa chữa, cải tạo gian nhà 25m² thành các ki ốt cho thuê. Gia đình cụ T6 đã nhiều lần làm đơn nên UBND phường B, quận H đã yêu cầu đình chỉ việc xây dựng trái phép nhưng không hiểu vì lý do gì, phía bị đơn vẫn tiếp tục được xây dựng.
Năm 1998, phía nguyên đơn làm đơn gửi UBND phường B về hành vi tự ý kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của cụ N, cụ H1. UBND phường B đã hướng dẫn nguyên đơn làm đơn gửi Sở N2 nay là Sở N2.
Ngày 11/10/2001, Sở N2 có Văn bản số 4962/CV- ĐCNĐ với nội dung: Theo hồ sơ lưu trữ tại Sở thì nhà đất tại số A M thuộc bằng khoán điền thổ 1593 khu V, nằm trên thửa đất số 39/14, diện tích 167m² nguồn gốc là đất công. Theo sổ kê khai đăng ký nhà cửa năm 1959 thì thửa đất trên đứng tên các chủ sử dụng sau: Cụ Thuyết 1/3 diện tích là 55,7m², cụ D2 và cụ T6 2/3 diện tích là 111,4m². Tài liệu trên là nguồn gốc của số nhà A phố M; quá trình biến động về sở hữu và sử dụng sau này, Sở không có tài liệu lưu trữ nên chưa thể xác định được.
Nguyên đơn đã làm đơn gửi UBND phường B, đề nghị buộc gia đình cụ N, cụ H1 trả lại nhà đất nêu trên. UBND phường B tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Do đó, ngày 12/9/2007, cụ T và các con khởi kiện đề nghị Tòa án buộc gia đình cụ N, cụ H1 trả lại nhà ở nhờ và quyền sử dụng đất ở tại số A M (nay thuộc số A M và số H Đoàn T) cho nguyên đơn.
Tại Biên bản hòa giải ngày 14/8/2020, nguyên đơn có ý kiến: Phương án hoà giải của nguyên đơn là gia đình bị đơn phải trả lại gia đình nguyên đơn toàn bộ nhà đất tại số A phố M; đối với nhà đất tại số H phố Đ thì yêu cầu bị đơn phải trả cho gia đình nguyên đơn 50% giá trị quyền sử dụng đất. Nếu bị đơn không đồng ý phương án hoà giải trên thì nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật và vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đòi toàn bộ nhà đất tại số A phố M và số H Đoàn T
Bị đơn là cụ Đinh Thị H1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đinh Thị H1; ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 trình bày:
Cụ H1 và cụ N kết hôn từ năm 1948, gia đình hai cụ về ở tại nhà số A M từ năm 1953. Nguồn gốc nhà đất là do vợ chồng cụ H1, cụ N và cụ D2 chung tiền mua (vợ chồng cụ H1, cụ N đưa tiền cho cụ D2). Khi đó, cụ T6 ở số F L, không chung tiền mua. Vì thời gian đã lâu nên cụ H1 không nhớ là đã đưa cho cụ D2 bao nhiêu tiền, diện tích nhà đất mua là bao nhiêu cụ H1 cũng không nắm được. Cụ H1 được biết khi mua chung thửa đất này còn có cụ T7 chung tiền để mua. Khi đó, do cụ D2 có mối quan hệ (là Trưởng ban đại diện khu phố) nên gia đình có sự phân công nhau. Vợ chồng cụ H1 và cụ T7 đều giao tiền mua nhà đất cho cụ D2 để cụ D2 đứng ra mua và làm giấy tờ sang tên trước bạ. Hiện trạng đất khi mua là một (01) bãi chuối, một (01) hố vôi to, bãi mía và khu đất trũng. Khi vợ chồng cụ H1 về ở đó mới xây dựng túp lều tre, vách liếp, tôn thùng.
Đến năm 1963, vợ chồng cụ H1, cụ D2 mới xây được ba (03) gian nhà cấp 4 diện tích 50m² nhà ngói 03 gian. Cụ D2 ở phòng giữa, vợ chồng cụ H1 ở gian đầu hồi và gian cuối. Nguồn tiền xây dựng nhà là của vợ chồng cụ H1; cụ D2 không có tiền mà chỉ đóng góp công sức và giao dịch đối ngoại. Cụ H1 không nhớ tổng số tiền xây dựng nhà cụ thể là bao nhiêu; phía phố Đ đổ sâu 3m - 4m; phía phố M để lối đi vòng quanh nhà là 80cm; phía sau tiếp giáp với nhà cụ T7. Gia đình cụ H1 còn có nhà và đất khoảng 24m² để ở phía cuối; phía giữa có lối đi khoảng 80cm.
Năm 1985-1986, gia đình cụ H1 và cụ H6 (là vợ của cụ D2) có bán diện tích công trình phụ chung cho ông C được 99.000 đồng. Số tiền này được dùng để xây công trình phụ mới, còn lại chủ yếu đưa cho cụ T6 để cụ T6 xây dựng nhà tại số F L do cụ T6 trình bày hoàn cảnh khó khăn; bà H6 có cầm một ít nhưng không đáng kể. Khi bán có giấy mua bán, cụ T6 có ký vào giấy mua bán; trong giấy mua bán có nội dung công nhận quyền sở hữu của vợ chồng cụ H1 và cụ D2 nhà đất tại số A M.
Năm 1992, hai cụ giao lại nhà cửa cho các con. Được sự đồng ý của các hộ xung quanh, các con cụ đã xây, sửa nhà thành nhà như hiện nay.
Gia đình cụ H1 sống tại đây từ trước đến nay, không có tranh chấp gì. Nay phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu gia đình cụ H1 trả lại nhà đất nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh việc cho mượn nhà. Tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp cũng không thể hiện việc phân định ranh giới và quyền sở hữu nhà số A M của cụ T. Nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng từ giao tiền cho cụ D2 hoặc ông K1 là người bán đất. Việc nguyên đơn cho rằng năm 2007 đã có đơn gửi UBND phường B, quận H để giải quyết và yêu cầu đình chỉ xây dựng, trả lại nhà là không đúng.
Tài liệu do bên nguyên đơn xuất trình có xác nhận của cụ H6 và cụ T7 là do phía nguyên đơn hứa không kiện cáo để cụ H6, cụ T7 đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Nguyên đơn cho rằng các bên có thỏa thuận phân chia nhà đất nhưng không thể hiện thỏa thuận được tiến hành khi nào; không có văn bản thể hiện việc này. Khi gia đình cụ H6 xin phép xây dựng nhà, cụ H6 có làm đơn ngày 11/12/2006 và đề nghị gia đình cụ H1 là hàng xóm ký, trong đó cụ H6 công nhận phần đất của gia đình cụ H1 ở hai bên cạnh nhà cụ H6 tại số A M.
Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc để đảm bảo quyền lợi chính đáng của bị đơn.
Tại Biên bản hòa giải ngày 08/8/2020, bà T3 trình bày có nội dung: Hiện nay hai (02) diện tích kinh doanh tại số C M vẫn do cụ H1 đứng lên ký hợp đồng cho thuê; phần cửa hàng tạp hóa vẫn do ông B1, bà T8 thuê; phần cửa hàng bán xôi do chị Y - không nhớ chính xác họ và tên đệm thuê. Về việc những hộ thuê cửa hàng có cải tạo, sửa chữa gì đối với số nhà A M không thì bị đơn sẽ khảo sát lại và thông báo cho Tòa án sau.
Ngoài ra, bị đơn cho rằng chữ ký mang tên cụ Đinh Thị H1 tại hai (02) biên bản xác nhận và phân loại hồ sơ kê khai đăng ký nhà ở, đất ở năm 2005 của gia đình ông Nguyễn Đình P1, cụ Nguyễn Thị H6 tại số A M không phải là của cụ H1. Bị đơn nghi ngờ ông Nguyễn Vũ Đ là cán bộ địa chính thời điểm đó đã cố tình làm khuất tất trong trường hợp này. Đề nghị Tòa án xác minh làm rõ.
Tại Biên bản lấy lời khai của cụ Đinh Thị H1 ngày 26/11/2016 (bút lục 916) có nội dung: Hiện cụ H1 cư trú tại nhà con gái là Trương Thị L1 tại số E, ngõ B, ngách B phố Y, quận C, thành phố Hà Nội; cụ H1 xin được vắng mặt trong các buổi làm việc cho đến khi kết thúc vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- UBND thành phố H trình bày: Theo sổ kê khai đăng ký nhà cửa lập năm 1959, nhà đất tại số A M thuộc bằng khoán điền thổ số 1593 khu Viện mắt, nằm trên thửa 39, tờ bản đồ số 1 khu chữ U (bản đồ lập năm 1956) có diện tích 167m², nguồn gốc đất công. Về chủ sử dụng kê khai nhà như sau: Cụ Nguyễn Văn T7 kê khai, sử dụng 1/3 diện tích là 55,7m²; cụ Trương Đức D2 và cụ Trương Đức T6 kê khai sử dụng 2/3 diện tích là 111,4m². Hiện tại, Công ty Q2 không quản lý, cho thuê tại biển số nhà này. Đến nay, cụ T7 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 55,7m² đất ở; cụ D2 và vợ là cụ H6 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 31,85m² đất ở theo Quyết định số 21/QĐ-UB ngày 06/02/2017. Phần diện tích đất còn lại hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do còn có tranh chấp. Sau khi tranh chấp được giải quyết theo quy định, UBND quận H sẽ xem xét, hướng dẫn các hộ gia đình, cá nhân lập, hoàn thiện hồ sơ để được xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P (là con của cụ Trương Văn N, cụ Đinh Thị H1) trình bày:
Các bà là con của cụ Trương Văn N, cụ Đinh Thị H1. Năm 1953, bố mẹ các bà mua nhà đất chung với cụ D2, giao tiền cho cụ D2 không có giấy biên nhận. Ngay sau khi mua xong thì cả gia đình chuyển ra ở. Năm 1985, bố mẹ các bà cùng cụ D2, cụ T6 ký giấy bán cho ông C 24 m². Sở dĩ cụ T6 ký giấy vì cụ T6 đứng tên nên ông C và cụ T7 yêu cầu có cụ T6 ký. Trong Giấy nhượng quyền sở hữu đất ngày 14/06/1985 đã ghi nhận “Các bên, các hộ và những người liên quan đến văn bản này công nhận sự tồn tại cấu trúc và sở hữu nhà cửa hiện ở của các hộ, các phòng hiện có của các gia đình ở số nhà A M là thuộc quyền sở hữu cá nhân của người đang sử dụng”. Điều này đã gián tiếp khẳng định quyền của gia đình các bà đối với nhà đất tại số A phố M. Việc mua nhà của ba cụ T7, D2, T6 chỉ là mua nhà tạm trên đất của Nhà nước. Nhà tạm đã được thay thế bằng nhà ba gian năm 1962, gia đình các bà đã ở và đóng thuế với Nhà nước.
Phần nhà của bố mẹ các bà gồm hai phần, bố mẹ các bà phân chia phần nhà hiện mang số 08 Đoàn T cho ông S, phần nhà hiện mang số 131 Mai Hắc Đ1 chia cho bốn (04) chị em gái (H2, B, L1, P). Năm 1992, ông S xây dựng phần nhà được bố mẹ chia thì là tiền của vợ chồng ông S; bốn chị em gái không đóng góp tiền. Phần nhà 131 Mai Hắc Đ1 có xây dựng sửa chữa thì bốn (04) chị em gái đóng góp như nhau.
- Ông Phạm Minh T5 (là chồng của bà Trương Thị L1) trình bày: Tại phần nhà số H Đoàn T hai cụ N và cụ H1 giao cho bốn (04) chị em gái (H2, B, L1, P) quản lý; đã kết thúc hợp tác với Vũ Thanh S2; sửa chữa nhà trát tường, sơn vôi, lát nền, láng xi măng hết 30.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Nam H5 (là chồng của bà Trương Thị Thu P) trình bày: Đồng ý với ý kiến của vợ ông là bà Trương Thị Thu P; uỷ quyền cho bà Phạm Ngọc T3 cho đến khi kết thúc vụ án.
- Ông Vũ Thế B2 và bà Lê Thị T9 (là người thuê nhà số A phố M) trình bày: Ông bà thuê cửa hàng của cụ H1 tại nhà số A phố M bán bánh kẹo từ năm 2006, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Khi thuê giữa ông bà và cụ H1 không làm Hợp đồng thuê nhà mà chỉ giao dịch miệng; giá thuê là 4.000.000 đồng/tháng; quá trình thuê nhà ông bà có sửa chữa hết 10.000.000 đồng. Ông bà xin vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết và xét xử.
- Toà án cấp sơ thẩm đã nhiều lần thông báo và triệu tập Hộ kinh doanh Viene tại nhà số H phố Đ (do bà Nguyễn Thị Bích N1 đại diện) đến Toà án, nhưng bà N1 không có văn bản đến Toà án, không có mặt theo giấy triệu tập.
- UBND quận H cung cấp ý kiến tại Công văn số 148/TN&MT ngày 09/04/2008: Nhà đất tại số A M thuộc bằng khoán điền thổ số 1593 khu Viện mắt, nằm trên thửa 39/14 tờ bản đồ số 1 khu chữ U (bản đồ lập năm 1956) có diện tích 167m², nguồn gốc đất công đứng tên các cụ Nguyễn Văn T7, Trương Đức D2, Trương Đức T6. Năm 1982, các cụ T7, D2, T6 đã tự phân chia diện tích và sử dụng ổn định không có tranh chấp. Chủ sử dụng đất theo sổ kê khai đăng ký nhà cửa năm 1959 thì thửa đất trên đứng tên các chủ sử dụng: Cụ Nguyễn Văn T7 kê khai sử dụng diện tích là 55,7m²; cụ Trương Đức D2 và cụ Trương Đức T6 kê khai sử dụng diện tích là 111,4m². Cụ Nguyễn Văn T7 và cụ Trương Đức D2 (vợ là cụ Nguyễn Thị H6) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài các thông tin trên, UBND quận H không có tài liệu để trả lời các thông tin khác theo đề nghị của Toà án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2020/DS-ST ngày 30/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
- Áp dụng khoản 2 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 3 Điều 68, khoản 1 Điều 91, Điều 92, Điều 93, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Luật Người cao tuổi năm 2009; Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án và điểm 1.1 khoản 1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q đối với cụ Đinh Thị H1, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía gia đình bị đơn về việc đòi nhà tại số A M và nhà số H Đoàn T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội.
- Xác định nhà đất tại số A M, phường N, quận H, Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 11, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998), diện tích 32,3m² và nhà đất số H Đoàn T, phường N, quận H, Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 12, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998), diện tích 34,8m² có nguồn gốc là của cụ Trương Đức T6 mua nhà và nhận chuyển nhượng quyền thuê đất năm 1954.
- Buộc cụ Đinh Thị H1, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác phải trả cho bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q toàn bộ nhà đất mang biển số A M, phường N, quận H, Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 11, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998), diện tích 32,3m². Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q được quyền sở hữu nhà, được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất nói trên.
- Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q phải thanh toán cho các ông bà Trương Thị H2, ông Trần Kim Q1, bà Trương Thị B, ông Đào Mạnh H4, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 số tiền 36.762.800 đồng (ba mươi sáu triệu, bẩy trăm sáu mươi hai nghìn, tám trăm đồng); trong đó, mỗi người phải thanh toán 7.352.560 đồng (bẩy triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm sáu mươi đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q thanh toán cho ông Vũ Thế B2, bà Lê Thị T9 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); trong đó, mỗi người phải thanh toán số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Giao cho cụ Đinh Thị H1, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 được sở hữu nhà và sử dụng đất tại số H Đoàn T, phường N, quận H, Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 12, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998), diện tích 34,8m².
- Cụ Đinh Thị H1, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 phải thanh toán cho bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q số tiền 5.799.733.200 đồng (năm tỷ, bẩy trăm chín mươi chín triệu, bẩy trăm ba mươi ba nghìn, hai trăm đồng); trong đó cụ Đinh Thị H1, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 mỗi người phải thanh toán cho các đồng nguyên đơn 1/3 là 1.933.244.400 đồng (một tỷ, chín trăm ba mươi ba triệu, hai trăm bốn mười tư nghìn, bốn trăm đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán, án phí bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với phần diện tích nhà đất số A M, phường N, quận H, Hà Nội được giao theo quyết định của bản án có hiệu lực; cụ Đinh Thị H1, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với phần diện tích nhà đất số H Đoàn T, phường N, quận H, Hà Nội được giao theo quyết định của bản án có hiệu lực.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/10/2020, nguyên đơn là ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Mạnh Q có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần trích 50% trị giá quyền sử dụng đất nhà số H Đoàn T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội.
Ngày 12/10/2020, bị đơn là bà Phạm Ngọc T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 14/10/2020, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H2, ông Trần Kim Q1, bà Trương Thị B, ông Đào Mạnh H4, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Những người thuê nhà tại số A phố M là hộ kinh doanh ông Vũ Thế B2 và tại số H phố Đ là hộ kinh doanh VIENE (do bà Nguyễn Thị Bích N1 là người đại diện theo pháp luật) đều đã trả lại nhà cho thuê và không liên quan đến việc tranh chấp nhà đất tại số A phố M và số H phố Đ nên Tòa án cấp phúc thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng. Cụ Đinh Thị H1 đã chết vào ngày 04/8/2022 nên Tòa án cấp phúc thẩm đã đưa những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H1 là ông Trương Mạnh S, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P (là con đẻ của cụ H1, cụ Trương Văn N) vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ H1.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 29/11/2023, các đương sự gồm nguyên đơn đồng thời là người thừa kế hợp pháp và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đỗ Thị T, ông Trương Bỉnh K, bà Trương Thị Kim D3 là bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q và bị đơn bà Phạm Ngọc T3, ông Trương Mạnh S, người thừa kế hợp pháp và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đinh Thị H1 gồm ông Trương Mạnh S, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P, ông Đào Mạnh H4, ông Phạm Minh T5, anh Trương Thanh T4 và anh Trương Nhật A (người đại diện theo ủy quyền của anh T4 và anh Nhật A là bà Phạm Ngọc T3) đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để các đương sự hòa giải.
Tại Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 13624/2023/QĐPT-DS ngày 29/11/2023, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định tạm ngừng phiên tòa.
Phiên tòa phúc thẩm tiếp tục tiến hành vào ngày 26/12/2023, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Về án phí dân sự sơ thẩm, các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng thời là người thừa kế hợp pháp và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đỗ Thị T, ông Trương Bỉnh K, bà Trương Thị Kim D3 là bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q và bị đơn bà Phạm Ngọc T3, ông Trương Mạnh S, người thừa kế hợp pháp và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là cụ Đinh Thị H1 gồm ông Trương Mạnh S, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P, ông Đào Mạnh H4, ông Phạm Minh T5, ông Nguyễn Nam H5, anh Trương Thanh T4 và anh Trương Nhật A (người đại diện theo ủy quyền của anh T4 và anh Nhật A là bà Phạm Ngọc T3) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và về án phí đề giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và giải quyết theo quy định của pháp luật về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cụ Đỗ Thị T (đã chết ngày 25/02/2011), ông Trương Bỉnh K (đã chết ngày 09/10/2014, không có vợ con), bà Trương Thị Kim D3 (đã chết ngày 14/12/2007, không có chồng con), bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q có đơn khởi kiện đòi nhà cho ở nhờ, đòi quyền sử dụng đất tại số H Đoàn T và số A M (trước đây đều thuộc số A M), phường B (nay là phường N), quận H, thành phố Hà Nội. Tại thời điểm Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì ông Trương Mạnh S và bà Phạm Ngọc T3 đang công tác ở nước ngoài; anh Trương Thanh T4 và anh Trương Nhật A là con của ông S, bà T3 cũng đang học tập, công tác tại nước ngoài. Do đó, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng chuyển vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và việc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 12/10/2020, nguyên đơn là ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Mạnh Q, bà Trương Thị L, bị đơn là bà Phạm Ngọc T3 có đơn kháng cáo, và ngày 14/10/2020, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H2, ông Trần Kim Q1, bà Trương Thị B, ông Đào Mạnh H4, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 có đơn kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng thời là người thừa kế hợp pháp và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đỗ Thị T, ông Trương Bỉnh K, bà Trương Thị Kim D3 là bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q và bị đơn bà Phạm Ngọc T3, ông Trương Mạnh S, người thừa kế hợp pháp thuộc hàng thừa kế thứ nhất và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đinh Thị H1 gồm ông Trương Mạnh S, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P, ông Đào Mạnh H4, ông Phạm Minh T5, ông Nguyễn Nam H5, anh Trương Thanh T4 và anh Trương Nhật A (người đại diện theo ủy quyền của anh T4 và anh Nhật A là bà Phạm Ngọc T3) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
- Bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q nhận số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng do ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P trả và công nhận nhà, quyền sử dụng đất tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A M), phường N (trước là phường B), quận H, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P.
- Ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P trả số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng cho bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q và được quyền sở hữu nhà, sử dụng đất tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A M), phường N (trước là phường B), quận H, thành phố Hà Nội.
- Vào ngày 25 tháng 12 năm 2023, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P (bà H2, bà B, bà P do bà L1 đại diện) đã giao cho bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (địa chỉ: Số B phố Q, thành phố Hà Nội). Trong đó, ông Trương Mạnh S và bà Phạm Ngọc T3 đã giao số tiền 4.675.000.000 đồng (Bốn tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng); bà Trương Thị L1, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị Thu P (bà H2, bà B, bà P do bà Trương Thị L1 đại diện) đã giao số tiền 5.325.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) đều vào tài khoản số 0021000343362 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3. Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q đã nhận đủ số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (địa chỉ: Số B phố Q, thành phố Hà Nội) theo tài khoản số 0021000343362 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (Việc giao nhận tiền đã được các bên lập Biên bản giao nhận tiền ngày 25 tháng 12 năm 2023 có chữ ký của bên giao tiền là ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị L1 và bên nhận tiền là bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q).
- Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q cam kết không tranh chấp, không khiếu kiện, không khiếu nại về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A M), phường N (trước là phường B), quận H, thành phố Hà Nội.
- Ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với quyền sử dụng đất, nhà và tài sản gắn liền với đất tại số H phố Đ, phường N, quận H, thành phố Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 12, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998). Bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với quyền sử dụng đất, nhà và tài sản gắn liền với đất tại số A phố M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 11, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998).
[4] Như vậy, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[5] Về án phí dân sự: Đây là vụ án về tranh chấp về đòi nhà, đất cho ở nhờ và thuộc trường hợp đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch. Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm. Nguyên đơn là bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn là ông Trương Mạnh S (sinh năm 1955) và bà Phạm Ngọc T3 (sinh năm 1962) đều là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm; do bị đơn là cụ Đinh Thị H1 (sinh năm 1931) được miễn án phí dân sự sơ thẩm, cụ Đinh Thị H1 đã chết trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm (cụ Đinh Thị H1 chết ngày 04/8/2022) nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đinh Thị H1 là ông Trương Mạnh S, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có kháng cáo nhưng là người cao tuổi là ông Trương Mạnh H (sinh năm 1953), ông Trương Anh T1 (sinh năm 1959), bà Phạm Ngọc T3 (sinh năm 1962), bà Trương Thị H2 (sinh năm 1960), ông Trần Kim Q1 (sinh năm 1955, đã chết năm 2023), bà Trương Thị B (sinh năm 1963), ông Đào Mạnh H4 (sinh năm 1960) nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Các đương sự khác là ông Trương Mạnh Q, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 27, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 73/2020/DS-ST ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q nhận số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng do ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P trả và công nhận nhà, quyền sử dụng đất tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A M), phường N (trước là phường B), quận H, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P.
- Ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P trả số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng cho bà Trương Thị Kim L (người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị Kim L là ông Trương Mạnh Q), ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q và được quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A M), phường N (trước là phường B), quận H, thành phố Hà Nội.
- Vào ngày 25 tháng 12 năm 2023, ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P (bà H2, bà B, bà P do bà L1 đại diện) đã giao cho bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (địa chỉ: Số B phố Q, thành phố Hà Nội). Trong đó, ông Trương Mạnh S và bà Phạm Ngọc T3 đã giao số tiền 4.675.000.000 đồng (Bốn tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng); bà Trương Thị L1, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị Thu P (bà H2, bà B, bà P do bà Trương Thị L1 đại diện) đã giao số tiền 5.325.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) đều vào tài khoản số 0021000343362 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3. Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q đã nhận đủ số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (địa chỉ: Số B phố Q, thành phố Hà Nội) theo tài khoản số 0021000343362 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (Việc giao nhận tiền đã được các bên lập Biên bản giao nhận tiền ngày 25 tháng 12 năm 2023 có chữ ký của bên giao tiền là ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị L1 và bên nhận tiền là bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q).
- Xác nhận ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P đã thanh toán xong cho bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q số tiền 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng.
- Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q cam kết không tranh chấp, không khiếu kiện, không khiếu nại về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất tại số A phố M và số H phố Đ (trước đây đều thuộc nhà số A M), phường N (trước là phường B), quận H, thành phố Hà Nội.
- Ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với quyền sử dụng đất, nhà và tài sản gắn liền với đất tại số H phố Đ, phường N, quận H, thành phố Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 12, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998). Bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với quyền sử dụng đất, nhà và tài sản gắn liền với đất tại số A phố M, phường N, quận H, thành phố Hà Nội có ký hiệu trên bản đồ là số 11, thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 6H-II-41 (bản đồ đo vẽ năm 1998).
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại bà Trương Thị Kim L, ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, ông Trương Anh T2, ông Trương Mạnh Q số tiền 50.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002837 ngày 31/10/2007 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn là ông Trương Mạnh S, bà Phạm Ngọc T3 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cho bị đơn là cụ Đinh Thị H1 là ông Trương Mạnh S, bà Trương Thị H2, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L1, bà Trương Thị Thu P.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, ông Trần Kim Q1, bà Trương Thị B, ông Đào Mạnh H4. Trả lại ông Trương Mạnh H, ông Trương Anh T1, bà Phạm Ngọc T3, bà Trương Thị H2, ông Trần Kim Q1, bà Trương Thị B, ông Đào Mạnh H4 mỗi người số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp tại các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, cụ thể như sau: Ông Trương Mạnh H đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020496, ông Trương Anh T1 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020497 cùng ngày 26/10/2020; bà Phạm Ngọc T3 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020869 (do ông Nguyễn Nam H5 nộp thay), bà Trương Thị H2 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020874, ông Trần Kim Q1 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020875, bà Trương Thị B đã nộp (do ông Nguyễn Nam H5 nộp thay) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020870, ông Đào Mạnh H4 đã nộp (do ông Nguyễn Nam H5 nộp thay) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020871 đều cùng ngày 29/10/2020.
- Ông Trương Mạnh Q, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 mỗi người phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà mỗi người là ông Trương Mạnh Q, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 đã nộp tại các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020498 ngày 26/10/2020; số 0020876, số B, số B, số 0020873 cùng ngày 29/10/2020. Xác nhận ông Trương Mạnh Q, bà Trương Thị L1, ông Phạm Minh T5, bà Trương Thị Thu P, ông Nguyễn Nam H5 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Do ông Trần Kim Q1 đã chết năm 2023 nên vợ của ông Trần Kim Q1 là bà Trương Thị H2 được nhận lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông Trần Kim Q1 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020875 ngày 29/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Minh Tuấn |
Bản án số 607/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ, tranh chấp quyền sử dụng đất ở
- Số bản án: 607/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ, tranh chấp quyền sử dụng đất ở
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế tài sản, đòi quyền sử dụng đất
