|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 607/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2021
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Hồng Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lê Thị Chí
- 2. Bà Lê Thị Thanh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim N, thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 6 năm 2021 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1638/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng N, sinh năm 1984; Địa chỉ: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Địa chỉ: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 12 năm 2020 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bà Trần Thị Hồng N là nguyên đơn trình bày:
Bà với ông T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện V, tỉnh H ngày 18/02/2005.
Trong quá trình chung sống, bà và ông T không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gổ với nhau. Bà và ông T không giải tỏa, hàn gắn được mâu thuẫn nên ông T đã bỏ nhà đi từ tháng 6/2009 cho đến nay. Bà nhận thấy vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà yêu cầu trực tiếp nuôi 03 con chung tên Nguyễn Ngọc Anh B, sinh ngày 07/10/2006, Nguyễn Ngọc Anh M, sinh ngày 29/6/2014 và Nguyễn Ngọc Anh K, sinh ngày 17/7/2018. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản khi ly hôn: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2. Tại bản tự khai ngày 10 tháng 5 năm 2021, ông Nguyễn Ngọc T là bị đơn trình bày:
Ông với bà N tự nguyện kết hôn năm 2005. Trong quá trình chung sống, ông và bà N phát sinh mâu thuẫn không hòa giải được. Ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N.
Về con chung: Ông đồng ý giao cho bà N trực tiếp nuôi con chung tên tên Nguyễn Ngọc Anh B, sinh ngày 07/10/2006, Nguyễn Ngọc Anh M, sinh ngày 29/6/2014 và Nguyễn Ngọc Anh K, sinh ngày 17/7/2018, ông tự thực hiện cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của mình. Ông yêu cầu bà N đưa các con về thăm ông bà nội mỗi năm.
Về chia tài sản khi ly hôn: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thực hiện đúng qui định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà N yêu cầu ly hôn với ông T. Ông T cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01/2005 ngày 18/02/2005 của Ủy ban nhân dân xã xã D, huyện V, tỉnh H ngày 18/02/2005. Xét, bà N và ông T có phát sinh mâu thuẫn trong quá trình chung sống là sự thật, bà N và ông T thống nhất ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N và ông T được ly hôn.
[4] Về người trực tiếp nuôi con: Xét, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi 03 con chung tên Nguyễn Ngọc Anh B, sinh ngày 07/10/2006, Nguyễn Ngọc Anh M, sinh ngày 29/6/2014 và Nguyễn Ngọc Anh K, sinh ngày 17/7/2018 là phù hợp với ý kiến của ông T và nguyện vọng của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản khi ly hôn: Bà N, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Căn cứ Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T. Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01/2005 ngày 18/02/2005 của Ủy ban nhân dân xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế hết hiệu lực.
- Về con chung: Bà N trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên tên Nguyễn Ngọc Anh B, sinh ngày 07/10/2006, Nguyễn Ngọc Anh M, sinh ngày 29/6/2014 và Nguyễn Ngọc Anh K, sinh ngày 17/7/2018. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản khi ly hôn: Bà N, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0027694 ngày 22/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hồng Đào |
Bản án số 607/2021/HNGĐ-ST ngày 14/06/2021 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 607/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N ly hôn ông T
