Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 606/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đậu Thị Mỹ Long – Giáo viên.

Bà Nguyễn Thị Hạnh – Bí thư phường Tân Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 608/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 612/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1991, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ D, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958 (còn sống); gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; sống chung như vợ chồng với chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1992, có 01 con chung sinh năm 2023; tiền sự: Không;

Tiền án:

- Ngày 26/6/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/10/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 bản án buộc bị cáo chấp hành 02 năm 03 tháng tù. Đến ngày 23/7/2011, bị cáo chấp hành xong hình phạt.

- Ngày 20/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành 04 năm tù theo bản án số 22/2012/HSST ngày 20/3/2012 (chưa được xóa án tích);

- Ngày 30/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 64/2016/HSST (chưa được xóa án tích);

- Ngày 27/02/2020, bị Toà án huyện V, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 12/2020/HSST (chưa được xóa án tích);

- Nhân thân: Ngày 24/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (khi đó, bị cáo là người chưa thành niên);

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Cơ sở giam giữ Công an thành phố B; có mặt.

- Bị hại: Anh Võ Minh T1, sinh năm 2008, nơi thường trú: 8/18, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Số F, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Minh P, sinh năm 1983, nơi thường trú: 8/18, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 13/7/2024, anh Võ Minh T1, sinh năm 2008, địa chỉ số H khu phố D, phường Q, thành phố B là nhân viên tiệm nét “Storm Game" địa chỉ số A khu phố B, phường B, thành phố B có dựng xe mô tô biển số 60AA-255.53, hiệu Wave Alpha ở trong tiệm nét “Storm Game” để làm việc và đi ngủ tại tiệm nét. Đến khoảng 07 giờ ngày 14/7/2024, anh T1 tỉnh dậy phát hiện xe mô tô biển số 60AA-255.53 đã bị mất. Qua camera giám sát, phát hiện lúc 6 giờ 30 phút ngày 14/7/2024 có 01 đối tượng lợi dụng tiệm nét vắng người đã vào trộm cắp xe mô tô (sau đó xác định là Nguyễn Thành L). Đến ngày 29/7/2024, biết không thể thoát tội nên Nguyễn Thành L, sinh năm 1991, địa chỉ tổ D, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã đến Công an Phường B đầu thú về hành vi trộm cắp xe mô tô của anh T1 vào ngày 14/7/2024.

Vật chứng và xử lý vật chứng:

- Xe 60AA-255.53 không thu giữ được.

- 01 (một) USB ghi nhận lại hình ảnh vụ việc.

- 01 (một) đôi dép màu trắng xám và 01 (một) mũ lưỡi trai bằng vải màu đen ở phía trên có chữ “Puma” (là vật dụng L mang trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản).

Kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐGTS ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô gắn máy biển số 60AA-255.53, trị giá là 13.941.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 586/CT-VKS-BH ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thành L có 04 tiền án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 14/7/2024, tại tiệm nét “Storm Game”, địa chỉ số A khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô biển số 60AA-255.53, trị giá là 13.941.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) của anh Võ Minh T1.

Với nội dung trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; bị cáo đầu thú nên cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.941.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường. Do vậy, cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Võ Minh T1 số tiền 13.941.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng, căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu trắng – xám; 01 mũ lưỡi trai, bằng vải, màu đen, ở phía trên có chữ “Puma”. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. 01 USB ghi nhận lại hình ảnh vụ việc (lưu vào hồ sơ vụ án).

[7] Đối với việc Nguyễn Trương Trí T2 là người mua lại xe mô tô, biển số 60AA-255.53 nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo L trộm cắp mà có, T2 đã bán xe cho một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với T2.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải bồi thường cho anh Võ Minh T1 số tiền 13.941.000 đồng (Mười ba triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

3. Về xử lý vật chứng, căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu trắng – xám; 01 mũ lưỡi trai, bằng vải, màu đen, ở phía trên có chữ “Puma”. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 697.000 đồng (Sáu trăm chín mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ sở giam giữ Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Học

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 606/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 606/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành L phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger