TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 606/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 17-11-2025.
Về việc: “Tranh chấp xác định
cha cho con".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1, Bà Hoàng Thị An.
- 2, Ông Nguyễn Đức Lưu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 361/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc: “Tranh chấp xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXX-ST ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 1989; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn V, xã P, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Xóm C, thôn P, xã C, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Số B, khu phố P, xã N, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 19/08/2020 (Là con chị H và do chị H đại diện); Nơi thường trú và nơi ở: Thôn V, xã P, thành phố Hà Nội.
- - Có mặt: Chị H.
- - Vắng mặt: Anh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu xác định cha mẹ cho con ghi ngày 06 tháng 10 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án, nguyên đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị Quỳnh H trình bày:
Năm 2019, chị có quen và nảy sinh tình cảm nam nữ với anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Xóm C, thôn P, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội (nay là: Xóm C, thôn P, xã C, thành phố Hà Nội) khi cả hai làm việc với nhau cùng Công ty tại khu công nghiệp T, Hà Nội. Chị và anh C có quan hệ sinh lý với nhau vài lần và chị có thai. Đầu năm 2020, anh C chuyển vào làm việc tại tỉnh Đồng Nai thì hai bên không gặp nhau nữa. Chị xác định trong thời gian quen và nảy sinh tình cảm với anh C, chị không có quan hệ sinh lý với bất cứ ai khác ngoài anh C.
Khoảng giữa năm 2020, chị cũng chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh làm việc. Đến ngày 19/08/2020, chị sinh ra 01 con trai tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố H. Theo yêu cầu phải có tên trẻ sơ sinh và tên người cha để Bệnh viện ghi vào giấy chứng sinh, chị đã khai họ và tên dự kiến đặt cho con là Nguyễn Đức T và khai tên họ của anh Nguyễn Văn C ở mục người cha. Khi đến viện để sinh con và sau khi sinh, chị cũng đã liên lạc và nhắn tin qua điện thoại di động cho anh C biết nhưng anh C không trả lời, không hồi âm. Thời gian gần đây, chị có liên hệ được với anh C thì anh tỏ thái độ nghi ngờ, không tin cháu T là con anh và nói chỉ khi có giám định ADN và do Toà án giải quyết thì anh mới chấp nhận.
Nay chị đề nghị Toà án căn cứ vào kết quả giám định ADN giữa anh C và cháu T của V, xác định anh C và cháu T có quan hệ cha con để chị làm thủ tục khai sinh cho cháu có đầy đủ họ và tên cha, mẹ theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 23/10/2025 và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án, bị đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày: Khoảng cuối năm 2019, anh có quen và nảy sinh tình cảm với chị Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 1989; quê ở: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm cùng Công ty với anh tại khu công nghiệp T, Hà Nội. Trong thời gian đó, anh và chị H có quan hệ sinh lý với nhau vài lần. Đầu năm 2020, anh chuyển vào làm việc tại khu công nghiệp N, tỉnh Đồng Nai và không còn đi lại, quan hệ gì với chị H nữa.
Khoảng cuối tháng 09/2020, anh được chị H thông báo cho biết chị có sinh 01 bé trai tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố H và xác định cháu là con anh. Do anh bận làm việc trong công ty và không biết cháu có phải là con anh hay không, nên anh cũng không đến thăm gặp mẹ con chị H.
Nay chị H khởi kiện yêu cầu Toà án xác định anh là cha của cháu bé do chị sinh ra ngày 19/08/2020, anh đề nghị được giám định ADN giữa anh và cháu. Trường hợp cháu là con anh thì anh nhận và có trách nhiệm với cháu về sau này.
Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Quỳnh H vẫn giữ nguyên lời khai và quan điểm của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội phát biểu ý kiến:
- - Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện hoàn toàn đầy đủ, đúng với các qui định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Nguyên đơn trong vụ án chấp hành đầy đủ các thông báo và quyết định tố tụng của Toà án, các qui định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn là anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên họp, hoà giải và phiên toà lần thứ nhất nhưng anh có đơn xin vắng mặt.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 88, khoản 1 Điều 89 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, xử:
- - Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh H về xác định cha cho con. Xác định anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1991; Nơi cư trú; Xóm C, thôn P, xã C, thành phố Hà Nội) là cha đẻ cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 19/08/2020.
- - Về án phí: Đương sự không phải nộp án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về nội dung:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
- Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Toà án nên được chấp nhận.
Chị Nguyễn Thị Quỳnh H khởi kiện vụ án xác định quan hệ cha - con đối với anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991 có địa chỉ nơi cư trú là: Xóm C, thôn P, xã C, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay là: Số nhà B, khu phố P, phường H, tỉnh Đồng Nai tại Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội và được anh C đồng ý. Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Văn C không tham gia phiên họp, hoà giải và vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất nhưng anh đã có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử và giành quyền kháng cáo cho đương sự theo thủ tục chung.
Tại Toà án, chị Nguyễn Thị Quỳnh H và anh Nguyễn Văn C cùng khai thống nhất về việc: Cuối năm 2019, giữa chị H và anh C nảy sinh tình cảm nam - nữ và có quan hệ sinh lý với nhau. Khi chị H có thai và sinh con, chị có thông báo cho anh C biết nhưng anh chưa thực sự tin đó là con của anh nên anh không công nhận.
Theo Giấy chứng sinh số: 002451, Quyển số: 01/2020 của Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố H cấp ngày 19/08/2020 thể hiện: “Chị Nguyễn Thị Quỳnh H, năm sinh 1989; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Giấy CMND số: [...], ngày cấp: 01/12/2009; Nơi cấp: Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Họ và tên cha: Nguyễn Văn C; Đã sinh con vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 19/08/2020, tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố H; Số con trong lần sinh này: 01; Giới tính của con: Nam; Cân nặng 3.200 gram; Dự định đặt tên con là Nguyễn Đức T”.
Theo yêu cầu của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Quỳnh H, Toà án đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 06/2025/QĐ-TCGĐ ngày 23/10/2025, để giám định ADN huyết thống giữa anh Nguyễn Văn C và cháu Nguyễn Đức T tại V1. Tại Kết luận giám định ADN số 607/25/KLGÐADN-PYQG ngày 27/10/2025 V1 đã kết luận: “Anh Nguyễn Văn C (NS: 1991) có quan hệ huyết thống cha - con với cháu Nguyễn Đức T do chị Nguyễn Thị Quỳnh H (NS: 1989) sinh ngày 19/08/2020, tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố H, độ tin cậy 99,9999%”.
Căn cứ vào kết quả giám định nêu trên, có đủ cở sở xác định anh Nguyễn Văn C và cháu Nguyễn Đức T có quan hệ huyết thống cha - con.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về xác định quan hệ cha con; Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con và người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con như sau:
Điều 88. Xác định cha, mẹ
1...
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con
1....
2. Toà án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trong trường hợp được quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Toà án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
1....
2. Cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Toà án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này”.
Đối chiếu với những quy định nêu trên, yêu cầu của chị Nguyễn Thị Quỳnh H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Chị Nguyễn Thị Quỳnh H và anh Nguyễn Văn C có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì đương sự xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 88; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- - Khoản 4 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh H đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C.
- Xác định anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Xóm C, thôn P, xã C, thành phố Hà Nội và cháu Nguyễn Đức T (Do chị Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 1989; Nơi thường trú: Thôn V, xã P, thành phố H ra ngày 19/08/2020, tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố H) có quan hệ huyết thống cha - con.
- Chị Nguyễn Thị Quỳnh H và anh Nguyễn Văn C có quyền tự liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về án phí: Đương sự không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị Quỳnh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Lân |
Bản án số 606/2025/HNGĐ-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 606/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Quỳnh H yêu cầu Toà án xác định quan hệ cha con giữa anh Nguyễn Văn Ch và cháu Nguyễn Đức T
