|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 606/2024/DS-PT
Ngày 04/12/2024
Về Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Quỳnh; |
| Các thẩm phán: | Ông Vũ Minh Tuấn; |
| Bà Nguyễn Phương Hạnh. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Minh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Diệu Nhân - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 367/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12850/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
-
1. Nguyên đơn: Ông Lý Chỉn M, sinh năm 1969; địa chỉ: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Lò Văn H – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L; địa chỉ: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu, SĐT: 0965.033.xxx, có mặt.
-
2. Bị đơn: Ông Lý Chỉn P, sinh năm 1974 và Bà Lù Xa X (Lù X), sinh năm 1975; Cùng địa chỉ: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị Bích N; địa chỉ: Tổ B phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu, có mặt.
-
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Lý Quang V, sinh năm 1996 (con trai bị đơn), có mặt;
- - Bà Lý Tá M1, sinh năm 1969 (vợ nguyên đơn), vắng mặt;
- - Bà Lý Tá M, sinh năm 1960 (chị gái nguyên đơn, bị đơn), vắng mặt;
- - Bà Lý Giao M2, sinh năm 1978 (em gái nguyên đơn, bị đơn), vắng mặt;
- Cùng địa chỉ: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu.
- - Bà Lý Xá M3, sinh năm 1982; địa chỉ: Bản G, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;
- - Bà Lý Thị M4, sinh năm 1991; địa chỉ: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;
- - Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
- 4. Người làm chứng: Ông Lý Chỉn Q, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, đơn bổ sung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và các lời khai tiếp theo tại phiên tòa, nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Năm 1988, vợ chồng nguyên đơn khai hoang được 09 thửa đất ruộng (đất trồng lúa nước), gồm các thửa: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tờ bản đồ số 105 địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Việc khai hoang có ông Lý Chỉn Q biết và có bản chữ nho ghi chép lại (bản chữ nho ghi chép với mục đích để lại cho con cháu). Quá trình sử dụng, gia đình nguyên đơn chưa đi kê khai và chưa đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) đối với các thửa đất ruộng trên. Năm 2000, vợ chồng nguyên đơn cho bị đơn ông Lý Chỉn P (là em trai của nguyên đơn) canh tác để nuôi mẹ, nay mẹ chết nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại 09 thửa đất ruộng trên cho nguyên đơn.
Về đất nương (đất trồng cây hàng năm khác) đo đạc thực tế diện tích là 1.679,4m² địa chỉ tại bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu có nguồn gốc do gia đình nguyên đơn khai hoang và sử dụng liên tục trồng ngô, khoai, một số cây khác từ khi khai hoang cho đến nay nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại.
Sau khi hai anh em xảy ra tranh chấp, nguyên đơn làm đơn lên Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã M để giải quyết (thì được biết toàn bộ diện tích 09 thửa đất ruộng trên đã được UBND huyện P cấp trong GCNQSDĐ số BQ 239117, số vào sổ cấp giấy chứng nhận (viết tắt GCN): CH00650 và 1.679,4m² đất nương trên cấp GCNQSDĐ số BQ 239118, số vào sổ cấp GCN: CH00651 cùng ngày 24/12/2013 cho hộ ông Lý Chỉn P và bà Lù Xa S, địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu mà không xác minh làm rõ nguồn gốc đất và nguyên đơn cũng không được Nhà nước gọi ra thực địa để chỉ đất khi đo đạc. Nhà nước tự đo đạc sau đó gọi các hộ dân lên UBND xã để nhận đất và cấp GCNQSDĐ cho người dân. Vì vậy, nguyên đơn đề nghị hủy một phần GCNQSDĐ đối với 09 thửa đất ruộng và 1.679,4m² đất nương.
Người đại diện theo ủy quyền và người bị đơn trình bày: Bị đơn tranh chấp có nguồn gốc từ gia đình bố mẹ, anh em, bị đơn khai hoang từ năm 1990 đến năm 1993 (công sức khai hoang gồm có nguyên đơn, bị đơn, em gái). Năm 1993, bị đơn lấy vợ và về sống ở bản H, xã K nên 09 thửa đất ruộng trên do bố mẹ và nguyên đơn canh tác trồng lúa. Năm 1996, vợ chồng bị đơn chuyển về ở cùng với mẹ và nguyên đơn thì cả gia đình tiếp tục cùng nhau canh tác. Năm 1997, bố, mẹ, anh chị em trong gia đình thỏa thuận: nguyên đơn canh tác 04 thửa đất ruộng còn vợ chồng bị đơn được canh tác 04 thửa đất ruộng (nay đang tranh chấp) và có trách nhiệm nuôi mẹ, chôn cất khi mẹ chết, từ đó vợ chồng bị đơn sử dụng liên tục (việc thỏa thuận không lập văn bản nhưng có các chị, em trong gia đình đều biết).
Năm 2013 khi Nhà nước có chủ trương đo đạc và cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân trong bản thì bị đơn đã làm thủ tục kê khai và được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ 09 thửa đất ruộng trên cho gia đình bị đơn và gia đình bị đơn canh tác sử dụng ổn định. Năm 2019 mẹ của bị đơn chết, năm 2021, bị đơn đã chuyển nhượng 09 thửa đất ruộng đó cho bà T Xa Mần (vợ cây S bản S), bà M thì nguyên đơn không cho chuyển nhượng và từ đó hai bên bắt đầu tranh chấp, hiện diện tích đất ruộng gia đình bị đơn vẫn đang sử dụng trồng cây ngắn ngày.
Cũng năm 1996, khi vợ chồng bị đơn về bản Tà phìn, xã M sinh sống thì khai hoang được số đất nương trong đó có diện tích đất tranh chấp 1.679,4m² (đất trồng cây hàng năm khác) để trồng đỗ tương và cây bông, xung quanh khu đất có hàng cây xương rồng (hiện cây xương rồng vẫn còn). Năm 2009, bị đơn có đổi đất với ông Lý Quang M5 (anh trai vợ ông M) khoảng 500m² để hai bên tiện canh tác nên diện tích đất này hiện nay liền. Sau khi đổi đất gia đình bị đơn vẫn canh tác. Năm 2013, diện tích đất đó được cấp chung GCNQSDĐ gồm nhiều thửa cho bị đơn.
Năm 2014, nguyên đơn xin bị đơn khoảng 500m² đến 600m² để trồng rau, chuối. Năm 2019, nguyên đơn đã nhượng lại cho ông Lý Quang M5 diện tích đất xin của bị đơn và một phần đất của bị đơn nữa (tổng số diện tích đất nguyên đơn nhượng cho ông M5 là 1.679,4 m²) mà không báo vợ chồng bị đơn, khi đó hai anh em hòa thuận nên nguyên đơn chuyển nhượng đất cho ông M5 bị đơn không kiện đòi lại. Nay gia đình bị đơn không đồng ý cho nguyên đơn diện tích đất đã bán cho ông M5.
Quá trình cấp GCNQSDĐ gia đình nguyên đơn đều biết và không có ý kiến gì và lúc đó mẹ bị đơn vẫn còn sống. Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn đòi đất và hủy một phần 02 GCNQSDĐ đã cấp cho bị đơn.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Lý Tá M1 (vợ của nguyên đơn): nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và yêu cầu khởi kiện.
Anh Lý Quang V: về nguồn gốc, quá trình khai hoang anh không biết. Năm 2013, khi Nhà nước cấp GCNQSDĐ anh đủ 17 tuổi, sống cùng bố mẹ Lý Chỉn P, Lù Xa S và bà nội Lý Lở M6. Anh được cùng bố mẹ sử dụng diện tích đất tranh chấp trên, còn bà nội tuổi cao nên không tham gia sản xuất. Nay ông M đòi lại diện tích đất trên và yêu cầu hủy GCNQSDĐ mang tên bố, mẹ anh (ông P, bà S) anh không đồng ý.
Bà Lý Tá M (chị gái nguyên đơn, bị đơn): Bà là chị ruột của ông M và ông P, bà có biết hai anh em tranh chấp đất tại 09 thửa đất ruộng ở bản T, xã M, huyện P, bà không biết số thửa. Nguồn gốc đất là của bố mẹ của bà khai hoang, thời điểm khai hoang bà không nhớ do quá lúc. Khi bố mẹ còn sống thì có chia cho hai anh em M, P mỗi người một khu vực để canh tác, đất của ông M giáp với đất của ông P còn đất của ông P chính là đất đang tranh chấp. Ông P sử dụng 09 thửa đất ruộng từ đó cho đến khi xảy ra tranh chấp. Quan điểm của bà đất đang tranh chấp là của bố mẹ chia cho ông Lý Chỉn P là của ông P1.
Bà Lý Giao M2 (em gái nguyên đơn, bị đơn): Bà là em gái ruột của ông M và ông P1, bà có biết hai anh em tranh chấp đất tại 09 thửa đất ở bản T, xã M, huyện P, đó là đất trồng lúa. Nguồn gốc đất là của bố mẹ khai hoang, thời điểm khai hoang thì bà còn nhỏ nên không rõ, ông P1 canh tác năm nào thì bà cũng không nhớ. Bà chỉ biết khi bố mẹ còn sống có cho hai anh em hai vị trí đất khác nhau, ông M được bố mẹ cho mấy thửa đất cụ thể thì bà không biết nhưng là đất trồng lúa nước có vị trí giáp với 09 thửa đất đang tranh chấp, còn ông P1 được bố mẹ cho 09 thửa đất tranh chấp trên nên ông P1 mới được làm sổ đỏ. Quan điểm của bà đất đang tranh chấp là của ông Lý Chỉn P.
Chị Lý Xá M3, Lý Thị M4 (các con của anh trai nguyên đơn, bị đơn): Bố các chị là ông Lý Chỉn T1, ông T1 là anh của ông M, ông P, là con cụ Lý Lở M6; ông T1 chết năm 1995, chết trước cụ Lý Lở M6, về diện tích đất ông M, ông P tranh chấp các chị không có ý kiến gì, không yêu cầu chia phần của ông T1.
Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện P, tỉnh Lai Châu trình bày (BL 97):
Nguồn gốc đất hai gia đình tranh chấp gồm: 09 thửa đất gồm các thửa 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tờ bản đồ 105, đất trồng lúa nước được cấp GCNQSDĐ số BQ 239117, số vào sổ cấp GCN: CH00650 cho ông Lý Chỉn P và bà Lù Xa S, ngày 24/12/2013 (tổng số thửa trong giấy chứng nhận gồm 16 thửa) và 1.679,4m² đất trồng cây hàng năm khác trong thửa đất số 27 với tổng diện tích 5.761,8m² tờ bản đồ số 28 được cấp GCNQSDĐ số BQ 239118, số vào sổ cấp GCN: CH00651, ngày 24/12/2013 (trong giấy chứng nhận gồm 24 thửa đất, 08 thửa đất trồng cây hàng năm, 16 thửa đất trồng lúa nước còn lại) cho hộ ông Lý Chỉn P và bà L Xa Sâm theo nguồn gốc xác minh tại UBND xã tại thời điểm cấp GCNQSDĐ là đất khai hoang từ năm 1993 và do gia đình ông P bà S đang sử dụng, không có tranh chấp.
Năm 2013, thực hiện chủ trương đo đạc, cấp GCNQSDĐ trên địa bàn toàn huyện, trong đó có xã M, UBND xã M đã thông báo chủ trương đến các thôn, bản để toàn thể nhân dân trên địa bàn kê khai, chỉ đất đi đo đạc cũng như làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ. Tại thời điểm năm 2013, gia đình nguyên đơn cũng có đơn đề nghị và được UBND huyện P xem xét cấp 04 GCNQSDĐ gồm: GCNQSDĐ số BT 559413, với diện tích 9901,6m² gồm 28 thửa (26 thửa đất trồng lúa tại tờ bản đồ số 105, 02 thửa đất trồng cây hàng năm khác tại tờ bản đồ 50); GCNQSDĐ số BT 559411 với diện tích 10264,3m² tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 52 đất trồng cây công nghiệp lâu năm; GCNQSDĐ số BT 559410 với diện tích 1.398,1m² tại thửa đất số 68, tờ bản đồ số 89 gồm 400m² đất ở và 998,1m² đất trồng cây hàng năm khác và GCNQSDĐ số CB 9911908 với diện tích 4.190,5m² gồm 22 thửa thuộc đất trồng lúa nước còn lại, trong đó: tờ bản đồ 96 gồm 10 thửa, tờ bản đồ 105 gồm 12 thửa.
Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông Lý Chỉn P được thực hiện đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003, Điều 14 Nghị định 88/2009/NĐ-CP, ngày 19/10/2009. Người sử dụng đất có đơn xin cấp GCNQSDĐ, UBND xã M tổ chức họp xét, lấy ý kiến khu dân cư để xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng, tình trạng tranh chấp đất đai đối với các thửa đất xin cấp GCNQSDĐ. UBND xã đã niêm yết công khai các trường hợp đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ tại UBND xã và nơi sinh hoạt chung của cộng đồng thôn, bản nơi có đất để tất cả các hộ dân được biết và có ý kiến tham gia trong thời gian 15 ngày. Hết thời gian công khai UBND xã lập tờ trình chuyển hồ sơ lên UBND huyện P thẩm định, ký duyệt cấp GCNQSDĐ theo quy định. Trong thời gian niêm yết tại xã, đến thời điểm cấp GCNQSDĐ, UBND huyện và qua báo cáo của UBND xã đều thể hiện không ai có khiếu nại, tranh chấp. Đến năm 2022, hai gia đình mới phát sinh tranh chấp.
Do đó, nguyên đơn ông Lý Chỉn M yêu cầu Tòa án tuyên hủy một phần GCNQSDĐ số BQ 239117, số vào sổ cấp GCN: CH00650 với diện tích 09 thửa đất: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tờ bản đồ 105, đất trồng lúa nước và một phần GCNQSDĐ số BQ 239118, số vào sổ cấp GCN: CH00651 với diện tích 1.679,4m² đất cây hàng năm khác trong thửa đất số 27 tờ bản đồ số 28 do UBND huyện P cấp cho gia đình ông Lý Chỉn P và bà L Xa Sam cùng ngày 24/12/2013 là không có căn cứ pháp lý. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Những người làm chứng trình bày:
Ông Lý Chỉn Q: Ông là anh ruột của ông M, ông P (con chú, con bác). Số đất ruộng trồng lúa nước tranh chấp ở sát bên cạnh ruộng nhà ông (nay ông đã cho con trai là Lý Phủ P2 sử dụng), có nguồn gốc đất do ông khai hoang và ông M là em họ nên có xin một ít ruộng và ông đồng ý cho ông M một đám ruộng để canh tác trồng lúa. Thời điểm ông M canh tác lâu rồi khoảng năm 1988, ông cũng không nhớ rõ, lúc đó là đất nương, sau đó anh em M, P canh tác, đất thành ruộng, sau này ông M không canh tác nữa có cho con trai là ông P canh tác để nuôi mẹ già khi mẹ còn sống, nay mẹ ông M đã chết nên ông M đòi lại thì hai anh em xảy ra tranh chấp. Tại thời điểm khai hoang và cho ông M số đất để canh tác thì đất chưa kê khai, chưa được cấp sổ đỏ.
Ông Lý Quang M5: Diện tích đất nương hai gia đình tranh chấp, năm 2009 gia đình ông và gia đình ông P có đổi một phần diện tích đất khoảng 500m² để tiện cho hai gia đình canh tác. Sau khi trao đổi hai bên có cây xương rồng làm hàng rào giáp ranh. Sau đó hai anh em ông M, ông P thỏa thuận như thế nào ông không biết, ông thấy ông M canh tác trên diện tích đất đó. Năm 2019 thì ông M chuyển nhượng cho ông diện tích khoảng 500-600m². Sau khi nhận chuyển nhượng ông có trồng cây. Khi hai bên tranh chấp thì ông đã trả lại đất, không tranh chấp, ông xác định không liên quan.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024,
Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu quyết định:
căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 95, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 50, Điều 52 Luật Đất đai năm 2003; Điều 135 Nghị định 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai năm 2003; Điều 14 Nghị định 88/2009/NĐ-CP, ngày 19/10/2009; Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai 2013; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Chỉn M về việc:
- + Buộc bị đơn trả 09 thửa đất số: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tờ bản đồ 105, mục đích đất trồng lúa nước và 1.679,4m² trong thửa đất số 27 với tờ bản đồ số 28, mục đích đất trồng cây hàng năm khác, cùng địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu cho nguyên đơn.
- + Và yêu cầu hủy giấy một phần GCNQSDĐ số BQ 239117, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00650 đối với 9 thửa đất số: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tờ bản đồ số 105, mục đích đất trồng lúa nước và một phần GCNQSDĐ số BQ 239118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00651, đối với diện tích đất cây hàng năm khác là 1.679,4m² trong thửa đất số 27, tờ bản đồ số 28, cùng địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Lai Châu cấp cho ông Lý Phủ M7 và bà Lù Xa S cùng ngày 24/12/2013.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/7/2024, nguyên đơn ông Lý Chỉn M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: ông Lý Chỉn M và Luật sư bào chữa cho ông M giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng ông Lý Chỉn Q cho ông M 09 thửa đất ruộng, ông M cho ông P mượn để cấy lúa, nuôi mẹ là cụ Lý Lở M6. Còn phần đất nương là do M là người khai hoang. Ông M khai lý do không làm thủ tục cấp giấy đối với các thửa đất tranh chấp vì việc cấp giấy là do Uỷ ban tự cấp nên ông M không biết để kê khai.
Ông Lý Chỉn Q xác định đất ông Q cho ông M là phần đất nương, không phải là 09 thửa ruộng mà ông M trình bày.
Bị đơn không nhất trí với kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Lý Chỉn M, giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 09/7/2024, nguyên đơn ông Lý Chỉn M kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu là trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lý Chỉn M đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu theo Biên lai số 0000008 ngày 15/7/2024. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất tranh chấp. Diện tích đất tranh chấp do các bên đương sự tự xác định và thống nhất về diện tích, vị trí, giáp ranh, sơ đồ đo vẽ phù hợp với thực tế và GCNQSDĐ; Cụ thể: biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/3/2024 đã xác định diện tích đất đang tranh chấp gồm:
- [2.1] Đất ruộng (đất trồng lúa nước) gồm 09 thửa số: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, với diện tích 2.700,9m² tại tờ bản đồ 105, địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu (tên gọi xứ đồng Kim Tử T2, thuộc bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu) được UBND huyện P cấp chung trong GCNQSDĐ số phát hành BQ 239117, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00650 ngày 24/12/2013 cho ông Lý Chỉn P, bà Lù Xa S; có tứ cận: hướng Bắc giáp đất của ông Lý Chỉn Q (hiện anh Lý Phủ P2 sử dụng), hướng Đông giáp đường mòn, hướng Nam giáp đường mòn, hướng Tây giáp khe nước; hiện trạng trên đất có cây khoai do bị đơn trồng.
- [2.2] Diện tích 1.679,4m² đất nương (đất trồng cây hàng năm khác) trong thửa đất số 27, tờ bản đồ số 28 (trong tổng số diện tích 5761,8m²) địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu (tên gọi xứ đồng Lù L, bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu) được UBND huyện P cấp chung trong GCNQSDĐ số phát hành BQ 239118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00651 ngày 24/12/2013 cho ông Lý Chỉn P, bà Lù Xa S; có tứ cận các điểm 1-9: hướng Bắc giáp đất của ông Lý Quang M5 (Lý Hùng T3), hướng Tây giáp đất ông Lý Tờ K, hướng Tây Nam và Nam giáp đường nhựa (phần đất của ông Lý Chỉn P), hướng Đông và hướng Đông Nam giáp đất UBND xã M quản lý. Hiện trạng trên đất một số gốc cây xưa, cây đu đủ, cây bưởi.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị Tòa án buộc bị đơn trả lại 09 thửa đất trồng lúa nước tại các thửa số: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tổng diện tích 2.700,9m² tại GCNQSDĐ số BQ239117 và 1649,4m² đất trồng cây hàng năm khác tại GCNQSDĐ số BQ239118 thấy:
[3.1] Đối với 09 thửa đất trồng lúa nước (đất ruộng) gồm các thửa số: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tổng diện tích 2700,9m² tại tờ bản đồ 105, địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu: Nguyên đơn cho rằng do vợ chồng nguyên đơn khai hoang từ năm 1988, sau đó cho bị đơn sử dụng liên tục từ năm 2000 đến khi tranh chấp. Lời trình bày của nguyên đơn không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh, vì việc khai hoang chưa đi kê khai, chưa có tên trong sổ mục kê; Nguyên đơn có xuất trình bản chữ nho, nhưng nguyên đơn thừa nhận bản chữ nho do nguyên đơn nhờ người viết năm 1995, không có diện tích đất, không có vị trí, bản chữ nho mục đích ghi chép để con cháu trong họ không được bán đất và diện tích đất đó chưa đi kê khai. Trong khi đó bị đơn và chị, em trong gia đình khẳng định 09 thửa đất ruộng (đất trồng lúa nước) là do bố mẹ và các anh, em trong gia đình khai hoang, khi còn sống bố mẹ và anh em trong gia đình thỏa thuận chia cho bị đơn nên là của bị đơn.
[3.2] Các đương sự đều thống nhất nguồn gốc đất khai hoang từ những năm 1993 trở về trước, chị không thống nhất về việc đất do một mình nguyên đơn khai hoang hay cả gia đình của bố mẹ nguyên đơn, bị đơn khai hoang. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của những người trong gia đình, quá trình sử dụng đất, bản thân nguyên đơn chưa đi kê khai và còn trực tiếp giao cho bị đơn canh tác sử dụng liên tục đến trước khi tranh chấp, thì có căn cứ xác định đất là của cả gia đình khai hoang nên có công sức của cả nguyên đơn và bị đơn.
[3.3] Tuy nhiên, quá trình sử dụng, các đương sự đều thừa nhận có sự kiện gia đình sau đó đã giao cho bị đơn ông Lý Chỉn P canh tác để nuôi mẹ và mẹ chay khi mẹ chết. Năm 2013 khi UBND huyện P cấp GCNQSDĐ cho bị đơn, nguyên đơn cũng được cấp 04 GCNQSDĐ cùng ngày 24/12/2013 (GCNQSDĐ số BT 559413, với diện tích 9901,6m² gồm 28 thửa (26 thửa đất trồng lúa tại tờ bản đồ số 105, 02 thửa đất trồng cây hàng năm khác tại tờ bản đồ 50); GCNQSDĐ số BT 559411 với diện tích 10264,3m² tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 52 đất trồng cây công nghiệp lâu năm; GCNQSDĐ số BT 559410 với diện tích 1398,1m² tại thửa đất số 68, tờ bản đồ số 89 gồm 400m² đất ở và 998,1m² đất trồng cây hàng năm khác; GCNQSDĐ số CB 9911908 với diện tích 4.190,5m² gồm 22 thửa thuộc đất trồng lúa nước còn lại, trong đó: tờ bản đồ 96 gồm 10 thửa, tờ bản đồ 105 gồm 12 thửa) nhưng nguyên đơn cũng không kê khai và không phản đối việc bị đơn được cấp giấy đối với 09 thửa ruộng trên.
[3.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư của nguyên đơn cho rằng lời khai của một số người liên quan không khách quan nhưng chỉ cung cấp được lời khai của các con ông Lý Chỉn T1, trong khi hồ sơ vụ án còn lời khai của các chị em của nguyên đơn và bị đơn; nguyên đơn vẫn thừa nhận việc nguyên đơn và gia đình giao đất cho bị đơn đất để canh tác nuôi mẹ và lo ma chay khi mẹ chết, chỉ không thừa nhận là cho sở hữu mà chỉ là cho mượn. Tuy nhiên, lời khai của nguyên đơn tại phiên toà về nguồn gốc các thửa đất tranh chấp mâu thuẫn với chính lời khai của nguyên đơn tại cấp sơ thẩm và mâu thuẫn với lời khai của người làm chứng là ông Lý Chỉn Q. Tại cấp sơ thẩm và theo lời khai của ông Q thì ông Q cho ông M phần đất nương trồng cây hàng năm nhưng tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn ông M lại khai ông Q cho ông M 09 thửa ruộng (cấy lúa nước). Như vậy, có căn cứ tin vào lời khai của bị đơn (ông P) và những người liên quan (đều là chị em của nguyên đơn và bị đơn) về nguồn gốc 09 thửa ruộng là của cả gia đình nguyên đơn, bị đơn khai hoang, trong đó có công sức của nguyên đơn nhưng nguyên đơn đã từ bỏ quyền sử dụng, tặng cho bị đơn và đây là đất nông nghiệp, bị đơn là người trực tiếp sử dụng liên tục trước khi được cấp GCNQSDĐ năm 2013.
[4] Đối với diện tích 1649,4m² đất trồng cây hàng năm khác (đất nương) trong thửa đất số 27, tờ bản đồ số 28 có diện tích 5761,8m², địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu: Nguyên đơn trình bày là do khai hoang thêm nhưng không có chứng cứ chứng minh. Bị đơn khai do vợ chồng bị đơn khai hoang và đổi với ông Lý Quang M5 cũng không có tài liệu nào chứng minh nhưng phù hợp với lời khai của ông Lý Quang M5 về việc đổi đất năm 2009, trên đất còn ranh giới là cây xương rồng.
[5] Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất bị đơn sử dụng 1649,4m² đất tranh chấp đến năm 2014, sau đó nguyên đơn sử dụng khoảng 500-600m² (tương đương khoảng gần ½ phần diện tích đất tranh chấp) để trồng rau, hoa màu. Năm 2019 nguyên đơn đã bán cho ông Lý Quang M5 1649,4m² (chính là diện tích đất tranh chấp, trong đó một phần đất nguyên đơn sử dụng, một phần đất bị đơn sử dụng nên hai anh em chia đôi số tiền ông M5 trả). Ông M5 sử dụng trồng cây gỗ xưa. Năm 2021, khi hai anh em tranh chấp ông M5 đã trả lại và từ đó bị đơn chặt phá cây xưa và đang sử dụng.
[6] Do vậy, việc nguyên đơn khẳng định đất do nguyên đơn khai hoang và sử dụng liên tục là không phù hợp nên ý kiến của nguyên đơn cho rằng toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp mà UBND huyện P cho ông Lý Chỉn P và bà Lù Xa X tại GCNQSDĐ số BQ239117 và số BQ239118 ngày 24/12/2013 là của gia đình nguyên đơn đã sử dụng liên tục, ổn định là không đủ căn cứ.
[7] Tòa án cấp sơ thẩm đã giải thích đầy đủ cho các đương sự về quyền yêu cầu chia phần di sản là quyền sử dụng đất của cụ Lý Lở M6 nhưng các đương sự khẳng định không yêu cầu, ngoài ra tại phiên tòa các đương sự cũng không nhớ chính xác được các anh, em, con cháu trong gia đình để xác định hàng thừa kế. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết việc chia thừa kế trong vụ án này là có căn cứ, tuy nhiên các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
[8] Xét yêu cầu của nguyên đơn đề nghị huỷ một phần GCNQSDĐ số BQ 239117, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00650 do UBND huyện P cấp cho ông Lý Chỉn P và bà Lù Xa S, ngày 24/12/2013 đối với 09 thửa đất số: 254, 255, 290, 291, 292, 293, 302, 303, 304, tờ bản đồ 105, mục đích đất trồng lúa nước và một phần GCNQSDĐ số BQ 239118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00651, ngày 24/12/2013 đối với 1.679,4m² đất cây hàng năm khác trong thửa đất số 27, tờ bản đồ số 28 do UBND huyện P cấp cho ông Lý Chỉn P và bà Lù Xa S cùng địa chỉ bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại khoản 3 Điều 50, khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai năm 2003, Điều 14 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ
[9] Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Chỉn M, chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm
[10] Về án phí: Ông Lý Chỉn M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Chỉn M; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
- Về án phí: Ông Lý Chỉn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0000008 ngày 15/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Vũ Minh Tuấn |
Nguyễn Phương Hạnh |
Trần Thị Quỳnh |
Bản án số 606/2024/DS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 606/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Chỉn Min và Lý Chỉn Phủ Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
