Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 606/2024/DS-PT.

Ngày 11-12-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử

dụng đất là lối đi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Ông Phạm Văn Tâm;
  2. Bà Võ Thị Hồng Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gọn – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 31-7-2024, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 454/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Châu L, sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp S, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  3. Bị đơn:
    • - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973; có mặt.
    • - Bà Dương Ngọc S, sinh năm 1968; có mặt.
    • Cùng nơi cư trú: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Dương Bình T2, sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  5. Người kháng cáo: Bà Trần Ngọc T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn ông Võ Châu L trình bày:

Phần lối đi tranh chấp nằm trong diện tích đất mà do cha mẹ bà T là cụ Ngô Thị P (đã chết) và cụ Trần Quốc L1 (đã chết) để lại cho bà T từ năm 2011. Trước khi cho bà T thì cụ P, cụ L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng lối đi là lối đi chung nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần lối đi này là lối đi cá nhân do ông bà, cha mẹ bà T chừa đất ra để cho những người phía trong đi ra và cũng để có đường đi vào mộ của dòng họ phía trong. Về tài liệu chứng cứ chứng minh lối đi là của gia đình bà T chừa ra thì không có nhưng gia đình bà T có 02 ngôi mộ của ông bà cố phía trong nên sử dụng lối đi này để vào thăm mộ. Hiện lối đi này đã bị bà S, ông T1 xây tường rào và gắn cửa cổng rồi. Khi ông T1, bà S làm rào chắn thì bên bà T có ngăn cản tranh chấp gửi đơn đến UBND xã và sau đó khởi kiện ra Tòa án.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà S, ông T1 tháo dỡ hàng rào trả lại lối đi diện tích 107,7 m² trong thửa 315, tờ bản đồ số 27 (BĐ 2005) tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Giữa nhà ông và bà T không có bà con dòng họ gì cả, chỉ là chòm xóm quen biết nhau. Nguồn gốc phần lối đi đang tranh chấp là của ông ngoại vợ là cụ ông Nguyễn Văn H để lại cho dì ruột bà S là cụ Nguyễn Thị H1 (đã chết), sau đó cụ H1 để lại cho cụ Nguyễn Thị P1 (đã chết) là mẹ ruột bà S và là mẹ vợ ông, sau đó cụ P1 cho tặng lại vợ chồng ông khoản năm 1998. Cụ Nguyễn Thị P1 để lại cho vợ chồng ông phần đất diện tích 1.496 m² thửa 114 (sau này tách thành thửa 315), tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T trong đó có phần lối đi bà T đang tranh chấp. Đến năm 2006, vợ chồng ông làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19-12-2006. Phần lối đi này là ông bà ông chừa ra từ lâu đời để đi vào đất, đây không phải là lối đi công cộng. Về chứng cứ chứng minh thì phần lối đi này đã được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà S. Trước đó thì cụ H1 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần lối đi này. Hiện tại ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà S ra thì không còn tài liệu chứng cứ gì chứng minh rằng cụ H, cụ H1, cụ P1 đã được cấp giấy phần lối đi này rồi. Phần lối đi đang tranh chấp, ngoài gia đình ông chỉ có người mua đất của ông đi nhờ trên lối đi này, ngoài ra không còn ai khác đi nữa cả

Nay ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T vì phần lối đi này của vợ chồng ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Bị đơn bà Dương Ngọc S trình bày:

Phần đất lối đi tranh chấp có nguồn gốc do mẹ bà là cụ Nguyễn Thị P1 để lại cho bà. Khoản năm 1998 mẹ bà là cụ P1 để lại cho bà phần đất diện tích 1.496 m² thửa 114 (sau này tách thành thửa 315), tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T trong đó có phần lối đi bà T đang tranh chấp. Đến năm 2006, bà và chồng là ông Nguyễn Văn T1 làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19-12-2006. Khi cho tặng mẹ bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi. Năm 2021 thì gia đình bà có xây dựng hàng chân tường và kẽm B40 để xung quanh lối đi.

Nay bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T. Do phần đất này của bà, bà đứng tên hợp pháp sử dụng hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Bình T2 trình bày:

Ông là em ruột của bà S, em vợ ông T1. Giữa ông và bà T không có bà con dòng họ gì cả, chỉ là chòm xóm quen biết. Khoảng năm 1998 mẹ ông là cụ Nguyễn Thị P1 để lại cho vợ chồng ông T1, bà S phần đất diện tích 1.496 m² thửa 114 (sau này tách thành thửa 315), tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T trong đó có phần lối đi bà T đang tranh chấp. Đến năm 2006, vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Dương Ngọc S làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19-12-2006. Khi cho tặng mẹ ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi. Lối đi bà T đang tranh chấp, chỉ có ông và vợ chồng ông T1, bà S đi trên lối đi này. Bà T không có đi trên lối đi này vì nhà bà T ở giáp mặt tiền đường. Khi mẹ ông là cụ P1 và cụ Ngô Thị P (Phân) còn sống thì không nhớ thời điểm nào hai bên có thỏa thuận xác định ranh và cặm trụ rào sử dụng đến nay. Nhưng việc hai cụ xác định ranh không có lập biên bản gì cả.

Nay ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 31-7-2024, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, quyết định.

Căn cứ Điều 12, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc T về tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi đối với ông Nguyễn Văn T1, bà Dương Ngọc S.
  2. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/8/2024, bà Trần Ngọc T có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Ngọc T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ngày 31/7/2024, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, ngày 14-8-2024, bà Trần Ngọc T có đơn kháng cáo. Kháng cáo của bà T còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bà Trần Ngọc T thấy rằng:

[2.1] Phần đất lối có diện tích là 107,7 m²; trong thửa đất số 315; tờ bản đồ số 27; đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn T1, bà Dương Ngọc S đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử đất có số vào sổ H01222 do UBND huyện T cấp ngày 19-12-2006.Tài sản trên đất: 01 hàng rào kẽm B40 xây luôn chân cao 0,5 m, lưới kẽm cao 1,5 m dài 27,2 m do ông T1, bà S xây dựng năm 2021.

[2.2] Bà T cho rằng lối đi đang tranh chấp nằm trong diện tích đất của cha mẹ bà để lại từ năm 2011 bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Riêng lối đi bà không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà không chứng minh được là lối đi là đất của cha mẹ ông bà của bà để lại.

[2.3] Ông T1, bà S cho rằng nguồn gốc đất là của mẹ bà S là cụ Nguyễn Thị P1 để lại cho vợ chồng ông T1 bà S. Ngày 19-12-2006, ông T1, bà S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm phần đất dùng làm lối đi đang tranh chấp.

[2.4] Tại công văn số 2611/CV Tr B ngày 27-11-2024, của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh T - Chi nhánh T3 xác định con đường thể hiện trong sơ đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T không phải là đường công cộng hay là đường nội bộ mà nó là thửa đất thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 27 do bà Dương Thị Ngọc S kê khai đăng ký.

[2.5] Phần đất diện tích là 107,7 m² bà T yêu cầu ông T1, bà S di dời hàng rào trả lại lối đi thì các đương sự thống nhất là đang sử dụng làm lối đi nhưng chỉ có gia đình ông T1, bà S, ông T2 sử dụng đi vào đất nội bộ của gia đình ông T1, bà S, ông T2, phía gia đình bà T cũng sử dụng lối đi này đi vào khu đất có 02 ngôi mộ của gia đình bà T. Lối đi này không thể hiện trên bản đồ địa chính và thuộc giấy chứng nhận của bà S.

[2.6] Phần đất bà T sử dụng giáp đường không bị bao bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng được quy định tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ. Bà T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà T. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 31-7-2024, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà T kháng cáo nhưng không được chấp nhận phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 12, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Ngọc T.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 31-7-2024, của Tòa án nhân dân thị xả T, tỉnh Tây Ninh.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc T về tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi đối với ông Nguyễn Văn T1, bà Dương Ngọc S.
  4. Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015729 ngày 14-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND thị xã Trảng Bàng;
  • - PNV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 606/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi

  • Số bản án: 606/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger