Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 605/2024/HS-ST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Thiện

2. Bà Nguyễn Thị Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 413/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 500/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Tiến Đ, sinh năm 2001.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 19/12/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

D chỉ bản số [...] lập ngày 20/12/2023 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Tiến Đ:

- Bà Đặng Thị Vân T1, Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt tại phiên tòa;

Ông Nguyễn Quang T2, Luật sư của Văn phòng L2 và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

* Bị hại: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

- Anh Nguyễn Tùng L, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, anh Nguyễn Đình H (sinh năm 1998; trú tại xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) có quan hệ tình cảm, chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị N (sinh năm 1997; hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn) nhưng không đăng ký kết hôn và có 01 con chung. Đến năm 2021 cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chia tay, chị N nuôi con và chuyển đến thuê nhà trọ của bà Trần Thị X (sinh năm 1950) tại thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Trong thời gian này, anh H cho chị N mượn 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 29M1-292.36 để sử dụng. Tháng 4/2023, chị N quen biết và phát sinh tình cảm với Trần Tiến Đ (sinh năm 2001; trú tại thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội). Đầu tháng 7/2023, Đ mượn chị N chiếc xe máy trên mang đi cầm cố để lấy tiền tiêu sài. Anh H đến phòng trọ của chị Ngọc C, không thấy chiếc xe máy của mình đâu nên hỏi thì chị N nói đã cho Đ mượn mang đi cầm cố. Thấy vậy, anh H liên hệ yêu cầu Đ trả lại chiếc xe máy trên thì Đ nói đang đi làm xa và hẹn vài hôm sau về sẽ trả nhưng sau đó anh H không liên lạc được với Đ nữa. Khoảng 08 giờ ngày 20/7/2023, Đ mang theo 01 con dao tự chế bằng kim loại, dài khoảng 10cm, chuôi dao dài khoảng 04cm, lưỡi dao dài khoảng 06cm, rộng khoảng 2,5cm, có mũi nhọn, một lưỡi sắc cất giấu trong túi quần bên phải rồi đi sang phòng trọ của chị N chơi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, anh H đến phòng trọ của chị N rủ chị N đi mua đồ cho con thì nhìn thấy Đ đang ở trong nhà vệ sinh, anh H hỏi: “Đạt à, xe của tao đâu”, Đ bảo: “Thì cứ từ từ tôi mang xe về trả”. Anh H bức xúc, lao vào dùng tay trái đấm 01 phát trúng mặt Đ, thấy vậy chị N can ngăn ôm, kéo anh H ra. Anh H nhìn thấy 01 con dao dài khoảng 30cm, có cán màu đen dài khoảng 11cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài khoảng 19cm, bản dao rộng khoảng 3,5cm (dạng dao gọt hoa quả) ở trên bệ bếp trong phòng trọ của chị N nên đã cầm lấy con dao bằng tay trái, giơ lên định chém về phía Đ. Thấy vậy, Đ giơ tay phải lên túm vào phần lưỡi dao khiến mặt trong ngón trỏ và ngón giữa tay phải của Đ bị chảy máu. Sau đó, Đ bỏ chạy ra khỏi phòng thì bị anh H cầm dao đuổi theo sau. Khi đến cuối dãy nhà trọ, anh H đuổi kịp và giơ chân đạp 01 phát vào người Đ làm Đ ngã nằm xuống đất. Anh H cầm dao bằng tay phải, giơ dao chém 01 phát (bằng sống lưng của con dao) trúng vào vùng trán của Đ làm Đ bị chảy máu và tiếp tục giơ dao lên chém phát thứ hai thì Đ giơ tay trái lên đỡ, nắm lấy con dao nên bị thương tích ở phần mặt trong các ngón bàn tay trái. Lúc này, anh Nguyễn Tùng L (sinh năm 1995; trú tại thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; là hàng xóm cùng dãy trọ với chị N) chạy đến can ngăn kéo anh H ra. Đ đứng dậy thì bị anh H chửi và yêu cầu Đ quỳ xuống xin lỗi anh H, Đ không quỳ thì bị anh H chửi và giơ dao lên dọa chém. Do bực tức vì bị anh H đánh nên khi anh H quay người bỏ đi thì Đ dùng tay phải rút con dao tự chế đã chuẩn bị từ trước trong túi quần phải ra đâm 01 nhát trúng mạn sườn bên trái của anh H. Bị đâm bất ngờ, anh H ôm bụng bỏ chạy ra ngoài đường rồi nhờ người dân chở đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu sau đó được chuyển đến Bệnh viện B để điều trị. Anh H điều trị từ ngày 20/7/2023 đến ngày 27/7/2023 thì ra viện.

Sau khi đâm anh H, Đ tiếp tục cầm dao đuổi theo anh H ra đường thì thấy anh H được người dân đưa đi cấp cứu. Đ gọi điện cho chị Trần Thị Hồng N1 (sinh năm 1998; trú tại thôn V, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội; là chị gái của Đ) đến đưa Đ đi Bệnh viện Đa khoa huyện T để sơ cứu, khâu vết thương rồi đi về.

Ngày 19/12/2023, Trần Tiến Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt tạm giam để điều tra về tội “Giết người”.

Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và trưng cầu giám định thương tích của anh Nguyễn Đình H và Trần Tiến Đ. Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 14 giờ 50 phút ngày 20/7/2023, thể hiện:

“... Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại khu dãy trọ của bà Trần Thị X (sinh năm 1950) ở thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội. Phía Bắc tiếp giáp nhà anh H1, phía Tây tiếp giáp bãi đất trống, ngõ và nhà anh H2, phía Nam tiếp giáp nhà ông H3, phía Đông tiếp giáp nhà chị P1. Khu nhà trọ của bà X gồm 02 dãy trọ, mỗi dãy có 05 phòng có lối đi chung ở giữa rộng 02m. Dãy phòng trọ phía Tây tại phòng thứ 02 theo thứ tự từ ngoài vào là phòng trọ được xác định là vị trí xảy ra xô xát. Phòng trọ có kích thước (3,3x5,3)m, có 01 cửa ra vào là cửa gỗ màu xanh kích thước (0,8x1,96)m, chốt khóa cách đất là 01m. Trong phòng gồm khu phòng kê giường ngủ và khu bếp, vệ sinh. Tại khu phòng ngủ có kê 01 giường gỗ kích thước (1,6x02)m kê sát tường Bắc và tường T3. Trên giường có chăn, gối lộn xộn. Khu vực bếp và nhà vệ sinh có bát đũa để tại khu vực chậu rửa và dưới nền nhà, không có dấu vết gì. Tại dãy phòng trọ phía Đ1, phòng cuối cùng tính từ ngoài vào là phòng trọ xác định bị hại chạy vào, phòng có kích thước (3,3x1,8)m, tay chốt nắm cách đất 0,9m. Tại vị trí trên tường sát cửa ra vào phòng trọ cuối cùng có để lại đám chất màu nâu đỏ kích thước (0,8x1,2)m, điểm thấp nhất cách đất 0,6m. Sát cửa sổ phòng trọ cuối cùng phía Đông có dựng 01 xe máy biển kiểm soát 30F1-6290 dựng chân trống nghiêng trái, phần đuôi xe có bám dính chất màu nâu đỏ”.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 410/KLTTC-TTPY ngày 03/4/2024 của Trung tâm P2 - Sở Y tế thành phố H về thương tích của anh Nguyễn Đình H, như sau:

“... IV. Kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • Sẹo vết mổ thành ngực trái: 03%.
  • Sẹo vết thương hạ sườn trái: 02%.
  • Sẹo vết mổ đường trắng giữa trên rốn: 03%.
  • Các sẹo dẫn lưu vùng mạn sườn trái và hố chậu trái: 02%.
  • Khâu lỗ thủng cơ hoành: 21%.
  • Khâu vết thương gan trái: 31%.
  • Tràn máu – tràn khí màng phổi trái: 03%.
  • Gãy xương sườn VII bên trái: 02%.

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đình H tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 20/7/2023 là: 53% (Năm mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Nguyễn Đình H do vật sắc nhọn gây ra.”...

Tại công văn số 201/CV-TTPY ngày 20/3/2024 của Trung tâm P2 - Sở Y tế thành phố H trả lời như sau:

“...Sau khi xem xét lại hồ sơ, Trung tâm P2 trả lời như sau:

1) Theo mô tả trong Công văn số 385/CQĐT-ĐTTH, con dao tự chế bằng Inox, dài khoảng 10cm, chuôi dao dài khoảng 4cm, lưỡi dao dài khoảng 6cm, rộng khoảng 2,5cm, có mũi nhọn, một lưỡi sắc. Như vậy, chiều dài lưỡi dao tương đối ngắn, không thể khẳng định chính xác có thể gây ra các thương tích của anh H hay không. Ngoài ra, khi đâm bằng con dao trên, có đâm được ngập chuôi hay không. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh làm rõ.

2) Theo biên bản xem xét, lấy sơ bộ thương tích ngày 20/7/2023 tại Bệnh viện Đ2, ghi nhận: anh H vào viện cấp cứu lúc 11h ngày 20/7/2023 trong tình trạng: tỉnh, choáng váng, vã mồ hôi, mạch 100 lần/phút, huyết áp 90/60mmHg, niêm mạc nhợt, vết thương hạ sườn trái, tức ngực trái, khó thở nhẹ, Sp02 96%, rì rào phế nang phổi trái giảm.

Theo bệnh án của Bệnh viện B, trong ngày 20/7/2023, anh H được phẫu thuật, xử trí tổn thương. Các tổn thương gồm vết thương ngực bụng, tràn máu tràn khí màng phổi trái (khoảng 1000ml cả nước máu lẫn máu cục), xẹp phổi, gãy xương sườn VII trái, thủng cơ hoành, vết thương gan trái, ổ bụng có nhiều máu cục.

Qua đó, anh H vào viện với biểu hiện sốc mất máu, suy hô hấp cấp, nếu không được cấp cứu kịp thời, sẽ dẫn đến nguy hiểm đến tính mạng.”

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 410/KLTTC-TTPY ngày 03/4/2024 của Trung tâm P2 - Sở Y tế thành phố H về thương tích của Trần Tiến Đ, như sau:

“...1. Các kết quả chính:

  • Sẹo vết thương vùng trán phải (trong chân tóc): 01%.
  • Sẹo mặt lòng đốt 1 ngón II bàn tay trái: 01%.
  • Sẹo mặt lòng đốt 1 ngón III bàn tay trái: 01%.
  • Sẹo mờ mặt ngoài đốt 1 ngón II tay phải: 01%.
  • Sẹo vết thương đốt 1 ngón III bàn tay phải: 01%.

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Tiến Đ tại thời điểm giám định là: 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Trần Tiến Đ do vật có cạnh sắc gây ra.”

Đối với hành vi của Nguyễn Đình H dùng dao chém vào đầu và tay của Trần Tiến Đ, gây tổn hại sức khỏe cho Đ là 05%. Tuy nhiên, ngày 08/4/2024, Đ có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, xin miễn trách nhiệm hình sự cho H và không yêu cầu H phải bồi thường dân sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi Cố ý gây thương tích theo quy định của pháp luật. Ngày 27/5/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền 6.500.000 đồng đối với H.

Đối với 01 con dao dài khoảng 30cm, có cán màu đen dài khoảng 11cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài khoảng 19cm, bản dao rộng khoảng 3,5cm anh H sử dụng để chém Trần Tiến Đ. Kết quả điều tra xác định sau khi bị Đ đâm thì anh H đã vứt con dao này trên đường đi cấp cứu. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.

Đối với 01 con dao tự chế dài khoảng 10cm, chuôi dao dài khoảng 04cm, lưỡi dao dài khoảng 06cm, rộng khoảng 2,5cm, có mũi nhọn, một lưỡi sắc Đ sử dụng để đâm anh H. Kết quả điều tra xác định, con dao trên do Đ tự làm và luôn mang theo người để phòng thân. Sau khi đâm anh H, Đ đã vứt con dao này trên đường đi đến bệnh viện để khâu vết thương. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.

Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra vụ án, anh Nguyễn Đình H không yêu cầu Trần Tiến Đ bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ.

Cáo trạng số 386/CT-VKSHN-P2 ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Tiến Đ về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Tiến Đ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Tiến Đ về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ từ 06 - 07 năm tù về tội “Giết người”;

Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, anh Nguyễn Đình H không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo Trần Tiến Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Tiến Đ nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về tội danh đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có lỗi khi đã dùng dao đuổi, chém gây thương tích cho bị cáo trước; bị cáo phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại các điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Bị hại anh Nguyễn Đình H, người làm chứng chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Tùng L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy bị hại và người làm chứng đã có lời khai và ý kiến trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của anh H, chị N, anh L không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Tiến Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/7/2023, anh Nguyễn Đình H đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị N tại thôn T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội thì gặp Trần Tiến Đ. Do bực tức về việc Đ mượn xe máy của anh H nhưng không trả nên anh H đã lao vào đấm và dùng 01 con dao dài khoảng 30cm, cán màu đen dài khoảng 11cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài khoảng 19cm, bản dao rộng khoảng 3,5cm chém vào tay và trán Đ rồi bắt Đ quỳ xuống xin lỗi. Bức xúc vì bị anh H đánh và bắt quỳ, Đ dùng tay phải cầm 01 con dao tự chế dài khoảng 10cm, chuôi dao dài khoảng 04cm, lưỡi dao dài khoảng 06cm, rộng khoảng 2,5cm, có mũi nhọn, một lưỡi sắc (đã cất giấu trong túi quần từ trước) đâm 01 nhát trúng mạn sườn bên trái của anh H gây ra vết thương tràn máu, tràn khí màng phổi trái, xẹp phổi, gãy xương sườn VII trái, thủng cơ hoành, tổn thương gan trái. Do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên anh H không tử vong nhưng bị tổn hại 53% sức khỏe.

Hành vi của bị cáo Trần Tiến Đ đã cấu thành tội “Giết người”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Do đó, có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 386/CT-VKSHN-P2 ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Tiến Đ về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Đình H dùng dao chém vào đầu và tay của Trần Tiến Đ, gây tổn hại sức khỏe cho Đ là 05%. Tuy nhiên, ngày 08/4/2024, Đ có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, xin miễn trách nhiệm hình sự cho H và không yêu cầu H phải bồi thường dân sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi Cố ý gây thương tích theo quy định của pháp luật. Ngày 27/5/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền 6.500.000 đồng đối với H.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến Đ tiếp tục đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, xin miễn trách nhiệm hình sự cho H và không yêu cầu H phải bồi thường dân sự.

[4]Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Tiến Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tiến Đ là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Bị cáo Trần Tiến Đ phải nhận thức rõ được việc dùng dao là hung khí nguy hiểm để đâm vào các vị trí trọng yếu trên cơ thể của anh Nguyễn Đình H có thể gây chết người nhưng bị cáo Trần Tiến Đ vẫn cố ý thực hiện; việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”.

Bị cáo Trần Tiến Đ nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có lỗi khi đã dùng dao đuổi, chém gây thương tích trước cho bị cáo; bị cáo phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường (Bút lục 177) nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Tiến Đ, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[5]Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Tiến Đ.

[6]Bị cáo Trần Tiến Đ được trừ thời gian đã bị tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày bị tạm giam được tính trừ một ngày tù.

[7]Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Đình H không yêu cầu gì đối với bị cáo Trần Tiến Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Giết người”
  2. Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/12/2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Tiến Đ.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Anh Nguyễn Đình H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

  5. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Tiến Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Trần Tiến Đ có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/9/2024.
  7. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 605/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 605/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/7/2023, anh Nguyễn Đình Hiếu đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị Ngọc tại thôn Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thì gặp Trần Tiến Đạt. Do bực tức về việc Đạt mượn xe máy của anh Hiếu nhưng không trả nên anh Hiếu đã lao vào đấm và dùng 01 con dao dài khoảng 30cm, cán màu đen dài khoảng 11cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài khoảng 19cm, bản dao rộng khoảng 3,5cm chém vào tay và trán Đạt rồi bắt Đạt quỳ xuống xin lỗi. Bức xúc vì bị anh Hiếu đánh và bắt quỳ, Đạt dùng tay phải cầm 01 con dao tự chế dài khoảng 10cm, chuôi dao dài khoảng 04cm, lưỡi dao dài khoảng 06cm, rộng khoảng 2,5cm, có mũi nhọn, một lưỡi sắc (đã cất giấu trong túi quần từ trước) đâm 01 nhát trúng mạn sườn bên trái của anh Hiếu gây ra vết thương tràn máu, tràn khí màng phổi trái, xẹp phổi, gãy xương sườn VII trái, thủng cơ hoành, tổn thương gan trái. Do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên anh Hiếu không tử vong nhưng bị tổn hại 53% sức khỏe.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger