Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 605/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-7-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hồng Hải
  2. Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 509/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1976; Địa chỉ: 8 L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Kim Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: 8 L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Bùi Thị Ngọc T trình bày:

Bùi Thị Ngọc T và ông Trần Kim Đ tự nguyện tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 1999, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 83 ngày 10/12/1999.

Sau khi cưới vợ chồng sống chung với nhau tại nhà ba mẹ chồng, số H L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 2000, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời bà T trình bày là về vấn đề tiền bạc và ông Đ nhậu nhẹt, quậy phá, chửi bới bà... Năm 2023 bà T đã nộp đơn ly hôn và sau đó rút đơn để cho ông Đ một cơ hội thay đổi nhưng ông Đ không thay đổi. Nay nhận thấy mâu thuẫn không thể giải quyết, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Trần Kim Đ để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà T khai có 02 con chung tên Trần Kim K – sinh năm 2002 và Trần Kim Á – sinh năm 2004. Hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T khai không có.

Về nợ chung: Bà T khai không có.

Bị đơn – ông Trần Kim Đ vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ, về con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn ông Trần Kim Đ vắng mặt không lý do và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:

Bùi Thị Ngọc T nộp đơn xin ly hôn ông Trần Kim Đ, đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn ông Trần Kim Đ hiện đang thực tế cư trú tại số H L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, không có lý chính đáng. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 83 do Ủy ban nhân dân Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/12/1999 thì quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống theo bà T trình bày vợ chồng mâu thuẫn vì vấn đề tiền bạc, ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bà, giữa bà T và ông Đ có nhiều mâu thuẫn xảy ra dẫn đến vợ chồng cãi nhau và sống ly thân, tuy đã hòa giải nhiều lần nhưng không đạt được kết quả. Do hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên nền tảng của sự thương yêu, quý trọng, tin tưởng, chăm sóc, giúp đỡ và tôn trọng nhau nhưng giữa bà T và ông Đ đã không hòa hợp, thiếu sự thương yêu, tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt thể hiện Bị đơn không tôn trọng giữ gìn mối quan hệ hôn nhân này, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[2.2]Về con chung: Bà T khai có 02 con chung tên Trần Kim K – sinh năm 2002 và Trần Kim Á – sinh năm 2004. Hai con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có tài sản chung, nợ chung, ông Đ vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng do bà T chịu và được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc T:

- Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Ngọc T được ly hôn với ông Trần Kim Đ.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Kim K – sinh năm 2002 và Trần Kim Á – sinh năm 2004 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có.

2. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm bà Bùi Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án bà T đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0001491 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương.

4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q.Tân Bình;
  • - UBND P.8, Q.Tân Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 605/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 605/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger