Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 604/2024/DS-PT

Ngày: 27-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn
Bà Ngô Tuyết Băng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hà Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 245/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 424/2024/QĐ-PT ngày 04/9/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (S);

Trụ sở: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T1; Chức vụ: Phó giám đốc Khối xử lý nợ; Ông Lê Văn T2; Chức vụ: Giám đốc khởi kiện địa bàn Hà Nội. Ông T2 có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Quang C, sinh năm 1993; Vắng mặt.

Nơi thường trú và cư trú: Tổ dân phố H, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của bị đơn là Ngân hàng TMCP Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Tại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/10/2019, ông Lê Quang C và S - chi nhánh L ký Hợp đồng cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC (Sau đây gọi là Hợp đồng cho vay) với số tiền vay 684.000.000 đồng, mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ôtô, thời hạn vay từ ngày 16/10/2019 đến 16/10/2026, lãi suất cho vay áp dụng cho 12 tháng đầu tiên là 9,49%, sau đó được điều chỉnh theo lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 14 tháng cộng với biên độ 4,79%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. S đã giải ngân cho ông C số tiền 684.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông C còn ký với S hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (Thẻ VISA) dành cho khách hàng cá nhân ngày 09/10/2019 với hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ôtô Huyndai, loại Tucson, số khung RLUC9W13BKN014599, số máy G4NAKW140244, mang BKS 30G-001.57 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 676389 do Phòng C1, Công an thành phố H cấp ngày 15/10/2019 cho ông Lê Quang C theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF192800007/HDTC/HQV-LQC ngày 16/10/2019 được kí kết giữa S và ông C. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi từ tháng 9/2020. S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông C trả nợ nhưng ông C vẫn không thực hiện.

S đề nghị Toà án buộc ông C phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 27/11/2023 cho S là:

  • - Theo Hợp đồng cho vay: Nợ gốc 659.571.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 229.013.056 đồng, lãi quá hạn 176.116.796 đồng; tổng 1.064.700.852 đồng.
  • - Theo Thẻ VISA: Nợ gốc 15.501.954 đồng, lãi quá hạn 22.189.024 đồng; tổng 37.690.978 đồng.

Ông C phải tiếp tục trả nợ cho S số tiền nợ lãi, phạt, phí phát sinh theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng kể từ ngày 28/11/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp, ông C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp nêu trên. Nếu tài sản phát mại không đủ trả nợ thì ông C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

* Bị đơn ông Lê Quang C trình bày:

Ông C công nhận việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và mở thẻ tín dụng theo đơn khởi kiện của S là đúng. S đã giải ngân đúng hạn mức đã ký với ông là 684.000.000 đồng. Quá trình sử dụng vốn, ông C đã thanh toán được một phần nợ gốc. Kinh tế khó khăn ảnh hưởng đến việc trả nợ Ngân hàng nên ông C còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số tiền gốc 659.571.000 đồng, lãi trong hạn 229.013.056 đồng, lãi quá hạn 176.116.796 đồng; tổng 1.064.700.852 đồng và nợ thẻ tín dụng: nợ gốc 15.501.954 đồng, lãi quá hạn 22.189.024 đồng; tổng 37.690.978 đồng. Hiện ông C không đủ khả năng thanh toán số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng. Ông C đề nghị Ngân hàng xem xét miễn giảm lãi và tạo điều kiện để ông thu xếp tiền trả nợ dần.

Tại phiên toà sơ thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho S số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử là ngày 03/04/2024: Theo Hợp đồng cho vay: Nợ gốc 659.571.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 241.216.970 đồng, lãi quá hạn là 165.040.358 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 46.045.998 đồng (Tính trên số tiền lãi chậm trả với lãi suất 10%/năm); Theo thẻ VISA: nợ gốc 15.501.954 đồng, lãi quá hạn 10.256.998 đồng. Ông C phải tiếp tục trả nợ cho S số tiền nợ lãi, phạt, phí phát sinh theo thoả thuận tại Hợp đồng cho vay và thẻ tín dụng kể từ ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 25/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận B đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của S.
  2. Buộc ông Lê Quang C phải trả cho S tổng số tiền nợ gốc và lãi đến ngày xét xử là 1.092.357.280 (Một tỷ, không trăm chín mươi hai triệu, ba trăm năm mươi bảy nghìn, hai trăm tám mươi) đồng theo:
    • - Hợp đồng cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 được kí kết giữa hai bên, trong đó nợ gốc là: 659.571.000 đồng; lãi trong hạn: 241.986.970 đồng, lãi quá hạn: 165.040.358 đồng, tổng cộng là 1.066.598.328 đồng;
    • - Thẻ tín dụng quốc tế (VISA - số tài khoản 00003502291) số tiền nợ gốc 15.501.954 đồng, nợ lãi là 10.256.998 đồng, tổng cộng là 25.758.952 đồng.

    Kể từ ngày xét xử, ông C còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho S theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đến ngày trả xong nợ gốc. Đối với thẻ tín dụng (VISA) thì kể từ ngày xét xử, nếu ông C không thi hành thì phải chịu một khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Không chấp nhận yêu cầu của S là buộc ông C phải thanh toán cho S số tiền phạt chậm trả lãi là 46.045.998 đồng.
  1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của S nếu ông Lê Quang C không trả được số tiền nêu trên thì S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô Huyndai, số loại Tucson, số khung RLUC9W13BKN014599, số máy G4NAKW140244, mang BKS 30G-001.57 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 676389 do Phòng C1, Công an thành phố H cấp ngày 15/10/2019 cho ông Lê Quang C theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF192800007/HDTC/HQV-LQC ngày 16/10/2019 được kí kết giữa S và ông C.
  2. Nếu số tiền thu được từ việc xử lí/bán tài sản đảm bảo nêu trên không đủ để thanh toán khoản nợ gốc, lãi cho S, ông Lê Quang C phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền còn thiếu cho S

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu: buộc ông Lê Quang C phải thanh toán cho S số tiền nợ lãi chậm trả theo HĐ cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 số tiền tạm tính đến ngày 3/4/2024 là: 46 triệu đồng và việc bản án sơ thẩm không có nội dung: Kể từ ngày 4/4/2024, ông C tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà 2 bên thỏa thuận trong HĐTD cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; và xem xét lại án phí mà S phải chịu.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo xuất trình bảng tính nợ theo Hợp đồng tín dụng và đề nghị ông C phải trả khoản nợ như sau:

  • - Theo Hợp đồng cho vay theo từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 số tiền tạm tính đến ngày 3/4/2024: Nợ gốc là 659.571.000 đồng; lãi trong hạn: 241.216.970 đồng, lãi quá hạn: 165.086.618 đồng, lãi chậm trả là 46.000.000 đồng, tổng cộng là 1.111.874.588 đồng (Một tỉ, một trăm mười một triệu, tám trăm bảy mươi tư nghìn, năm trăm tám mươi tám dồng).
  • - Theo Thẻ VISA: Nợ gốc 15.501.954 đồng, lãi quá hạn 22.189.024 đồng; tổng 37.690.978 đồng.

Bị đơn vắng mặt nên các đương sự không thoả thuận được cách giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (S) trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn S là người kháng cáo có mặt.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 296 giải quyết vụ án theo quy định.

[2]. Về nội dung:

Xét kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu: buộc ông Lê Quang C phải thanh toán cho S số tiền nợ lãi chậm trả theo HĐ cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 số tiền tạm tính đến ngày 3/4/2024 là: 46 triệu đồng và việc bản án sơ thẩm không có nội dung: Kể từ ngày 4/4/2024, ông C tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà 2 bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; và xem xét lại án phí mà S phải chịu.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]. Về hợp đồng tín dụng:

Ngày 16/10/2019, ông Lê Quang C và S - chi nhánh L ký Hợp đồng cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC (Sau đây gọi là Hợp đồng cho vay) với số tiền vay 684.000.000đồng, mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ôtô, thời hạn vay từ ngày 16/10/2019 đến 16/10/2026, lãi suất cho vay áp dụng cho 12 tháng đầu tiên là 9,49%, sau đó được điều chỉnh theo lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 14 tháng cộng với biên độ 4,79%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. S đã giải ngân cho ông C số tiền 684.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông C còn ký với S hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (Thẻ VISA) dành cho khách hàng cá nhân ngày 09/10/2019 với hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ôtô Huyndai, loại Tucson, số khung RLUC9W13BKN014599, số máy G4NAKW140244, mang BKS 30G-001.57 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 676389 do Phòng C1, Công an thành phố H cấp ngày 15/10/2019 cho ông Lê Quang C theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF192800007/HDTC/HQV-LQC ngày 16/10/2019 được kí kết giữa S và ông C. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi từ tháng 9/2020. S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông C trả nợ nhưng ông C vẫn không thực hiện.

S đề nghị Toà án buộc ông C phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 27/11/2023 cho S là:

  • - Theo Hợp đồng cho vay: Nợ gốc 659.571.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 229.013.056 đồng, lãi quá hạn 176.116.796 đồng; tổng 1.064.700.852 đồng.
  • - Theo Thẻ VISA: Nợ gốc 15.501.954 đồng, lãi quá hạn 22.189.024 đồng; tổng 37.690.978 đồng.

Xét thấy, S và ông C đã ký kết Hợp đồng cho vay và S đã giải ngân theo đúng thỏa thuận. Ông C thừa nhận hợp đồng cho vay đã kí kết, thẻ VISA đã mở tại S và số tiền đã được S giải ngân. Việc ký kết hợp đồng thực hiện theo đúng thủ tục, trình tự quy định của pháp luật và thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền nên hợp đồng cho vay trên là hợp pháp có hiệu lực thi hành với các bên.

[2.2]. Về yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Sau khi vay tiền của S, đến tháng 9/2020, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay. S giải ngân cho ông C số tiền 684.000.000 đồng, ông C đã trả số tiền nợ gốc là 8.143.000 đông, còn nợ là 659.571.000 đồng. Ông C đã vi phạm thời hạn trả nợ gốc, lãi từ lâu theo thỏa thuận tại Điều 5.7 của hợp đồng cho vay, việc S khởi kiện, yêu cầu ông C thanh toán khoản tiền nợ gốc trên cho S là có căn cứ. Ông C cũng thừa nhận chưa đủ điều kiện kinh tế để thanh toán số tiền nợ gốc này. Ngoài ra ông C còn mở một thẻ VISA có số TK: 000003502291 tại S có hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, ông C đã sử dụng số tiền 21.000.000 đồng, đã trả số tiền nợ gốc là 5.498.046 đồng, còn số tiền nợ gốc là 15.501.954 đồng ông C chưa thanh toán cho S. Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của S về việc buộc ông C thanh toán toàn bộ nợ gốc trên cho S.

[2.3]. Về yêu cầu thanh toán nợ lãi:

Cấp sơ thẩm xem xét và chấp nhận đối với Hợp đồng cho vay: S xác định thời điểm khoản nợ của ông C chuyển quá hạn từ tháng 9/2020, là thời điểm ông

C trả tiền nợ lần cuối và yêu cầu ông C trả cho S tiền nợ lãi trong hạn là 241.216.970 đồng, lãi quá hạn: 165.040.358 đồng. Ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 23/9/2020 đến nay nên S áp dụng lãi suất quá hạn đối với khoản vay là 150% của lãi suất trong hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay theo các quyết định ban hành lãi suất tiết kiệm kì hạn 13/14 tháng của S. Ông C vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng, đã quá thời hạn trả nợ mà ông C chưa thanh toán cho S như thỏa thuận nên S khởi kiện, yêu cầu ông C thanh toán tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn cho S là có căn cứ. Lãi suất trong hạn và quá hạn được S áp dụng từng thời điểm đối với số tiền nợ của ông C theo các quyết định điều chỉnh lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 14 tháng cộng với biên độ 4,79%/năm theo thỏa thuận của các bên tại điểm b, mục 4.1 Điều 4 của hợp đồng tín dụng là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với thẻ VISA: S áp dụng mức lãi suất thẻ tín dụng trong hạn là 12.79%/năm, tương ứng lãi suất quá hạn là 19.185%/năm đối với khoản tiền đã tiêu dùng kể từ khi sử dụng đến ngày xét xử là có căn cứ cần chấp nhận.

Tuy nhiên cấp sơ thẩm không buộc ông Lê Quang C phải thanh toán cho S số tiền nợ lãi chậm trả theo HĐ cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 số tiền tạm tính đến ngày 3/4/2024 là: 46.000.000 đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NĐ-HĐTP (Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau: a) Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này. b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn); căn cứ điểm a, khoản 5, điều 466, Bộ luật Dân sự năm 2015 (Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật 2015) thì: Hợp đồng tín dụng giữa S và anh C xác lập vào ngày 16/10/2019, vì vậy, trong trường hợp nêu trên, ngoài tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, thì nguyên đơn có yêu cầu đòi tiền lãi trên nợ lãi trong hạn chưa trả là có căn cứ.

Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về nội dung này, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi tiền lãi trên nợ lãi trong hạn chưa trả.

Về việc Bản án dân sự sơ thẩm không có nội dung: Kể từ ngày 04/4/2024, ông C tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo

mức lãi suất mà 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Kháng cáo của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận, cần sửa bản án sơ thẩm về nội dung này: Kể từ ngày tiếp theo ngày xử sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản vay.

[2.4]. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thế chấp tài sản: S và ông C đã kí kết Hợp đồng thế chấp xe ô tô, việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định để đảm bảo cho khoản vay của ông C tại S. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô Huyndai, số loại Tucson, mang BKS 30G-001.57 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 676389 do Phòng C1, Công an thành phố H cấp ngày 15/10/2019 cho ông C. Tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, lãi quá hạn, phạt... Ông C xác nhận việc kí kết hợp đồng thế chấp đảm bảo cho khoản vay của ông C tại S. Trường hợp ông C không trả nợ gốc, lãi... cho S theo quyết định tại bản án của Tòa án, cần xử lý tài sản đảm bảo theo thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng thế chấp đã kí kết. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo quyết định của bản án.

[2.5]. Về các yêu cầu khác của S: S yêu cầu toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông C đối với S. Trường hợp số tiền thu được từ bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ theo bản án, quyết định của Tòa án thì ông C vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi cho S đến khi trả hết khoản nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay được kí kết giữa các bên. Yêu cầu này của S là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội theo phân tích trên.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3]. Về án phí:

Xét kháng cáo của nguyên đơn về phần án phí:

Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo số tiền nợ lãi chậm trả theo HĐ cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 là 46.000.000 đồng. Vì vậy, S không phải nộp án phí đối với khoản tiền trên.

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Do sửa bản án sơ thẩm, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 38; Điều 147; Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 317 đến Điều 323, Điều 463, 466, 468, 470 và các Điều từ 500 đến 503 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số Điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
  • - Khoản 2 Điều 26; Điều 29 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S).
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S).
      • - Buộc ông Lê Quang C phải trả cho S tổng số tiền nợ gốc và lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.137.633.540đ (Một tỷ, một trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm bốn mươi đồng) theo:
        • + Hợp đồng cho vay từng lần số REF1928900007/HDTD/HNV-LQC ngày 16/10/2019 được kí kết giữa hai bên, trong đó nợ gốc là: 659.571.000đ; lãi trong hạn: 241.216.970đ, lãi quá hạn: 165.086.618đ, lãi chậm trả là 46.000.000đ tổng cộng là 1.111.874.588đ (Một tỷ, một trăm mười một triệu, tám trăm bảy mươi tư nghìn, năm trăm tám mươi tám đồng).
        • + Thẻ tín dụng quốc tế (VISA - số tài khoản 00003502291) số tiền nợ gốc 15.501.954 đồng, nợ lãi là 10.256.998đ, tổng cộng là 25.758.952đ (Hai mươi năm triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm năm mươi hai đồng).
      • Kể từ ngày tiếp theo ngày xử sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản vay.
      • Các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì phần lãi suất tính trên số nợ gốc ông Lê Quang C chưa thanh

toán cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của S nếu ông Lê Quang C không trả được số tiền nêu trên thì S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô to Huyndai, số loại Tucson, số khung RLUC9W13BKN014599, số máy G4NAKW140244, mang BKS 30G-001.57 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 676389 do Phòng C1, Công an thành phố H cấp ngày 15/10/2019 cho ông Lê Quang C theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF192800007/HDTC/HQV-LQC ngày 16/10/2019 được kí kết giữa S và ông C.

  1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý/bán tài sản đảm bảo nêu trên không đủ để thanh toán khoản nợ gốc, lãi cho S, ông Lê Quang C phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền còn thiếu cho SeABank
  2. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:
      • + Ông C phải chịu 46.129.006đ (Bốn mươi sáu triệu, một trăm hai mươi chín, không trăm linh sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
      • + S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho S số tiền 22.240.000₫ (Hai mươi hai triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0044320 ngày 23/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm:
      • Hoàn trả cho S số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0021527 ngày 03/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận B;
  • - Chi cục THADS quận B;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 604/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 604/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn ngân hàng Seabank và bị đơn Lê Quang C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger