Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 603/2024/DS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 489/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2022/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

    Địa chỉ: Lầu H, số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    Địa chỉ: số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1963 (vắng mặt).

    Địa chỉ: B ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06/6/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lã Ngọc M trình bày:

Ngày 20/7/2015 bà Trần Thị Thanh T có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, với hạn mức sử dụng thẻ tín dụng 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Trong quá trình sử dụng thẻ, bà T đã thực hiện giao dịch với số tiền 18.000.000 đồng và đã thanh toán 20.069.000 đồng; tuy nhiên bà T vẫn chưa thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng TMCP S.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/3/2019 Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với số tiền nợ là 4.055.920 đồng và tính lãi suất hàng tháng theo mức lãi suất nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Thanh T phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 14.206.060 đồng, trong đó: nợ gốc là 4.055.920 đồng và lãi quá hạn là 10.150.140 đồng; Buộc bà Trần Thị Thanh T có trách nhiệm trả Ngân hàng TMCP S tiền lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.

Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Trần Thị Thanh T vắng mặt và phía nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như trong quá trình giải quyết nguyên đơn, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bà Trần Thị Thanh T là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bị đơn trong vụ án cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Trần Thị Thanh T vắng mặt không lý do và đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Lã Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  3. [3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

    Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số nợ còn thiếu tính đến ngày 22/8/2024 là 14.206.060 đồng, trong đó: nợ gốc là 4.055.920 đồng và lãi quá hạn là 10.150.140 đồng; đồng thời yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng từ ngày 23/8/2024 cho đến khi bà T trả hết nợ.

    Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    1. [3.1] Ngày 20/7/2015 bà T có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (bao gồm bản điều khoản và điều kiện cấp thẻ). Ngân hàng Thương mại cổ phần S cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà T chưa thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng TMCP S. Tính đến ngày 22/8/2024 bà T còn nợ lại Ngân hàng số tiền là là 14.206.060 đồng, trong đó: nợ gốc là 4.055.920 đồng và lãi quá hạn là 10.150.140 đồng. Bị đơn đã vay tiền của nguyên đơn nhưng không trả số tiền đã vay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, Hội đồng xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận.
    2. [3.2] Về yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi: Nguyên đơn, bị đơn có thỏa thuận lãi suất 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn là 3,75%/tháng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi quá hạn là 10.150.140 đồng tính từ ngày 01/3/2019 đến ngày 22/8/2024; đồng thời nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn của giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trên từ ngày 23/8/2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ. Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét thấy yêu cầu của nguyên đơn số tiền lãi là phù hợp với quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
  4. [4] Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định pháp luật tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không tham gia các buổi làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn đã từ bỏ quyền trình bày, cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
  5. [5] Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tại phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện H phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  6. [6] Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

    H lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc bà Trần Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ là 14.206.060 đồng (mười bốn triệu, hai trăm lẻ sáu ngàn, sáu mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 4.055.920 (bốn triệu, lẻ năm mươi lăm ngàn, chín trăm hai mươi) đồng, tiền lãi quá hạn là 10.150.140 (mười triệu, một trăm năm mươi ngàn, một trăm bốn mươi) đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Thanh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/7/2015, điều khoản và điều kiện cấp thẻ nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    - Bà Trần Thị Thanh T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 710.303 (bảy trăm mười ngàn, ba trăm lẻ ba) đồng. Nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    - H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2022/0017078 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a. 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Phụng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 603/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 603/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc bà Trần Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ là 14.206.060 đồng (mười bốn triệu, hai trăm lẻ sáu ngàn, sáu mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 4.055.920 (bốn triệu, lẻ năm mươi lăm ngàn, chín trăm hai mươi) đồng, tiền lãi quá hạn là 10.150.140 (mười triệu, một trăm năm mươi ngàn, một trăm bốn mươi) đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger