TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 603/2024/DS-PT Ngày: 01 - 7 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng vay tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hương
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
- Bà Trần Thị Kim Quy
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án dân sự Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 396/TLPT-DS ngày 22/4/2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng vay tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 602/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2362/2024/QĐ-PT ngày 07/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 7645/2024/QĐ-PT ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Phạm Văn P, sinh năm 1965; địa chỉ: Số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bà Võ Thị N, sinh năm 1976, địa chỉ: Số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1965 (Giấy ủy quyền số công chứng 014891 ngày 16 tháng 9 năm 2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, Luật sư Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Đức P1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số C đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số E Đường số D, Tổ G, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng công chứng số 005423 quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C1 ngày 16/4/2021, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị Minh A; địa chỉ: Số C đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Văn phòng C2; địa chỉ trụ sở: Số A đường T, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện: Ông Nguyễn Hoàng V – Trưởng Văn phòng (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Phạm Hùng C, sinh năm 1965; địa chỉ: Số G đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N – nguyên đơn và ông Dương Đức P1 – bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 7 năm 2020, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N trình bày:
Tháng 11/2019, ông bà có ý định bán nhà đất số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để trả nợ ngân hàng, còn lại dùng làm vốn làm ăn. Ông Dương Đức P1 biết ông bà có định bán nhà nên ông P1 nói muốn mua nhà, ông bà thông báo cho ông P1 giá bán nhà là 5.400.000.000 (năm tỷ bốn trăm triệu) đồng qua tin nhắn Zalo. Ông P1 có xem nhà, hai bên thống nhất việc mua bán và ngày 30/12/2019, hai bên lập hợp đồng đặt cọc tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh số công chứng 18017, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD, số tiền đặt cọc thỏa thuận là 100.000.000 đồng.
Nhưng sau khi công chứng hợp đồng đặt cọc, ông P1 nói quên không đem theo tiền và hẹn mai mang tiền lên cho ông bà để đặt cọc nhưng từ đó đến nay ông P1 không thực hiện đặt cọc mà ngược lại còn ép vợ chồng ông bà phải cho ông P1 vay số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) để trả tiền vay công ty tài chính. Vợ chồng ông bà đã cho ông P1 mượn số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) để trả nợ. Nhưng sau khi vay được tiền Ngân hàng, ông P1 không tiếp tục thực hiện mua bán nhà, không hủy hợp đồng đặt cọc cũng như không trả tiền vay cho vợ chồng ông bà. Trước đó ông bà cũng đã nói với ông P1 về việc nếu ông P1 không có tiền mua thì hủy hợp đồng đặt cọc để ông bà bán nhà cho người khác, ông bà đã nhận tiền cọc của người ta rồi. Ông P1 buộc ông bà phải ký giấy cam kết do ông tự viết với nội dung ông bà đồng ý đưa ông P1 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) theo hợp đồng đặt cọc và hủy số nợ 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) ông đã mượn ông bà trước đó nên ông bà khởi kiện yêu cầu:
- - Yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 30/12/2019.
- Yêu cầu ông P1 phải trả cho ông bà số tiền đã mượn là 50.000.000 (năm mươi triệu đồng).
- Đối với ý kiến của đại diện bị đơn cho rằng ông P1 đã giao cho nguyên đơn số tiền đặt cọc 100.000.000 (một trăm triệu đồng) vào tháng 01/2020 là không đúng.
Ngày 19/01/2022 nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện bổ sung, theo đó nguyên đơn yêu cầu:
- - Buộc ông Dương Đức P1 bồi thường cho ông và bà N số tiền thiệt hại ngoài hợp đồng là 390.000.000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng tính đến tháng 10/2021. Ông P cho rằng trước thời điểm ký hợp đồng đặt cọc với ông P1, ông và bà N đã thế chấp căn nhà H đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q theo Hợp đồng thế chấp số 0207/HĐTC-VIB889/17, để vay Ngân hàng số tiền 2.790.000.000 đồng, ông P và bà N thực hiện trả gốc và lãi hàng tháng cho đến khi kết thúc khoản vay. Do ông P1 không thực hiện đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng theo thỏa thuận tại Điều 3 và Khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc và cũng không hủy hợp đồng đặt cọc với ông nên ông không thể bán căn nhà số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cho người khác để trả gốc và lãi cho Ngân hàng, tính đến tháng 10 năm 2021 ông phải trả lãi cho Ngân hàng số tiền 390.000.000 đồng. Vì vậy, ông P và bà N yêu cầu ông P1 phải bồi thường cho ông bà số tiền 390.000.000 đồng tạm tính đến tháng 10 năm 2021.
- - Buộc ông P1 phải trả cho ông bà số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng tiền phạt vi phạm hợp đồng theo Khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc.
- - Buộc ông P1 phải trả cho ông bà số tiền lãi tính trên số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng ông P1 nợ tạm tính từ ngày 10/3/2020 đến ngày 10/9/2021 với lãi suất 1%/tháng là 9.500.000 (chín triệu năm trăm ngàn) đồng.
- - Yêu cầu ông P1 phải trả cho ông bà số tiền tổn thất về mặt tinh thần là 29.800.000 đồng và công khai xin lỗi ông bà vì ông P1 chưa giao tiền cọc, chưa trả tiền nợ nhưng lại đi nói với bạn bè của ông bà là ông bà lừa đảo vì ông P1 đã giao cọc và cũng đã trả nợ được 15.000.000 đồng khiến bạn bè của ông bà hiểu nhầm, coi thường ông bà, ông bà nhiều lần đến nhà bạn bè để giải thích về bản chất của sự việc nhưng bị bạn bè xa lánh, không tiếp, không cho vào nhà.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu:
- - Hủy Hợp đồng cọc số công chứng 18017 ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
- Buộc ông Dương Đức P1 và bà Trương Thị Minh A giao số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
- - Yêu cầu ông Dương Đức P1 và bà Trương Thị Minh A trả số tiền nợ là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 10/3/2020 đến ngày 20/12/2023 theo mức lãi suất 10%/năm là 18.904.110 đồng.
- - Yêu cầu ông Dương Đức P1 và bà Trương Thị Minh A bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguyên đơn phải trả lãi Ngân hàng với số tiền tính đến ngày 01/11/2023 là 1.083.830.293 đồng.
- - Yêu cầu ông Dương Đức P1 và bà Trương Thị Minh A bồi thường tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 10 lần mức lương cơ sở là 18.000.000 đồng/người = 36.000.000 đồng cho hai vợ chồng ông P, bà N. Ông P, bà N yêu cầu ông P1 phải xin lỗi công khai ông bà tại nơi có mặt những người bạn của ông.
- - Yêu cầu ông Dương Đức P1 và bà Trương Thị Minh A bồi thường chi phí luật sư theo hợp đồng dịch vụ Pháp lý của Văn phòng L là 120.000.000 đồng, Chi phí luật sư theo hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty L1 là 150.000.000 đồng; tổng số tiền yêu cầu bồi thường chi phí luật sư là 270.000.000 (hai trăm bảy mươi triệu) đồng.
- - Yêu cầu ông Dương Đức P1 và bà Trương Thị Minh A bồi thường thiệt hại vật chất do thu nhập thực tế bị mất do chi phí liên quan đến đi lại, tạm dừng công việc để giải quyết vụ án là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.
Tại các bản tự khai, tại đơn phản tố ngày 20 tháng 6 năm 2023, bị đơn là ông Dương Đức P1, người đại diện theo ủy quyền của ông Dương Đức P1 là ông Nguyên Thành T1 trình bày:
Đối với hợp đồng đặt cọc: Do có mối quan hệ quen biết nên khi biết ông P muốn bán căn nhà số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên ông đồng ý mua. Ngày 30/12/2019, ông và vợ chồng ông P, bà N đã tiến hành ký hợp đồng đặt cọc như nguyên đơn trình bày.
Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, ông đã giao số tiền đặt cọc là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng bằng tiền mặt cho ông P và bà N. Tuy nhiên do quá quen biết, tin tưởng nên ông không yêu cầu ký giấy giao nhận tiền. Về thời điểm giao tiền là khoảng ngày 04, 05/01/2020, địa điểm giao ngoài đường tại ngã ba đường T - N.
Đối với hợp đồng vay tài sản: Sau khi ký Hợp đồng đặt cọc, do ông cần bán nhanh căn nhà ông đang ở để có tiền mua căn nhà ông đã đặt cọc với ông P. Nhưng sợ lâu bán được nhà nên ông tính làm hồ sơ đi vay ngân hàng để số tiền trả tiền mua căn nhà của ông P, bà N. Tuy nhiên vì trước đó ông có đứng tên giùm bạn bè để vay tín chấp nhưng bạn ông không có tiền trả lãi nên khoản nợ này trở thành nợ xấu. Để tránh bị ảnh hưởng “nợ xấu” nên vào khoảng tháng 07/01/2020 ông có yêu cầu ông P tạm gởi lại cho ông số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để ông trả nợ cho Ngân hàng khoản vay tín chấp để không còn trong danh sách nợ xấu để có thể vay số tiền lớn và trả tiền mua căn nhà của ông P, bà N.
Sau khi ông P đưa cho ông số tiền 50.000.000 đồng thì ông P nói việc nào ra việc đó và bắt ông ký giấy vay số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền 50.000.000 đồng này ông P yêu cầu đến ngày 13/01/2020 là ông phải trả lại 30.000.000 đồng nhưng do khó khăn nên ông chỉ trả trước được cho ông P 15.000.000 đồng, trả bằng tiền mặt và ông P nói khi nào trả đủ số tiền 50.000.000 đồng thì xé bỏ giấy mượn tiền chứ ông P không chịu làm giấy xác nhận đã nhận trước 15.000.000 đồng. Ông đã trả số tiền 15.000.000 đồng cho ông P có sự chứng kiến của ông Phạm Hùng C. Ông giao cho ông P số tiền 15.000.000 đồng ở quán cà phê trên đường N.
Sau sự việc giao dịch hợp đồng đặt cọc và vay tiền, ông P và bà N đến nhà gây ồn ào tại địa phương nơi gia đình ông sinh sống. Ông đề nghị vợ chồng ông P trả lại tiền cọc đã nhận hoặc tiếp tục ký hợp đồng mua bán nhưng ông P, bà N không đồng ý.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Dương Đức P1 đề nghị:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vẫn giữ yêu cầu phản tố. Ông P1 đề nghị Tòa án buộc ông P và bà N phải tiếp tục ký chuyển nhượng căn nhà số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng cọc. Trường hợp ông P và bà N từ chối thực hiện hợp đồng thì ông P và bà N có nghĩa vụ trả lại ông P1 số tiền 100.000.000 đồng ông đã đặt cọc và trả cho ông P1 số tiền 100.000.000 đồng do từ chối giao kết theo thỏa thuận tại điểm b, khoản 2 Điều 4 của hợp đồng cọc số công chứng 18017 ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
Ông Dương Đức P1 trình bày: Ông đã ký xác nhận có vay ông P số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó vào cuối tháng 02/2020, ông đã trả cho ông P số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng, việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của ông Phạm Hùng C là bạn của cả ông và ông P. Số tiền 15.000.000 đồng là ông vay của ông C bao gồm 03 mệnh giá là 500.000 đồng; 200.000 đồng và 100.000 đồng. Sau khi ông C đưa tiền thì ông P1 trả tiền cho ông P dưới dự chứng kiến của ông C, sau khi nhận tiền ông P cho vào giỏ rồi ông C, ông P, ông P1 ra về ngay. Đối với những yêu cầu khác của ông P và bà N, ông P1 không đồng ý.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị Minh A: Mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà A không đến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà A về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C2 trình bày: Qua kiểm tra hồ sơ lưu tại văn phòng thì ngày 30/12/2019 Công chứng viên Văn phòng C2 có chứng nhận Hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 98; tờ bản đồ số 222, địa chỉ số B đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn phòng C2 xác định việc chứng nhận hợp đồng đặt cọc là đúng trình tự, thủ tục và đúng quy định pháp luật và việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn ông Phạm Văn P, bà Võ Thị N với bị đơn ông Dương Đức P1, Văn phòng C2 không có ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp giải quyết theo quy định và làm đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng là ông Phạm Hùng C: Ông C đã được Tòa án nhân dân quận Gò Vấp triệu tập nhiều lần đến Tòa án làm việc và tham gia phiên tòa nhưng ông C không có mặt, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp công bố lời khai của ông C tại Công an quận G liên quan đến việc ông C chứng kiến việc ông P1 trả số tiền 15.000.000 đồng cho ông Phạm Văn P: “Tôi C xin trình bày: Vào khoảng giữa tháng 3/2020 sau lần tôi gặp ông P và ông P1 ở quán cà phê ở đầu đường T, Phường A, Q thì ông P1 có gọi điện thoại hỏi mượn tiền tôi số tiền 15.000.000 đồng. Mục đích mượn tiền thì P1 không nói cho tôi biết. Khoảng 3 - 4 ngày sau P1 gọi hỏi có tiền chưa tôi trả lời có rồi đi vào nhà lấy đi, P1 mới nói tiếp anh ra uống cà phê Nguyên Hồng ở đường N, Phường A, quận B rồi đưa luôn. Nghe vậy tôi cầm tiền 15.000.000 đồng ra quán cà phê. Tại đây tôi gặp P1 và P đang ngồi uống cà phê, tôi vào ngồi chung bàn với P1 và P. Sau đó tôi lấy số tiền 15.000.000 đồng từ túi quần ra đưa cho ông P1 rồi tôi nhìn thấy P1 cầm tiền từ tôi và đưa cho ông P đồng thời tôi có nghe ông P1 nói với ông P là “tôi trả tiền cho ông P 15.000.000 đồng”, lúc này tôi mới biết ông P1 nợ tiền của ông P. Khi ông P cầm tiền cất vào túi quần, ba người ngồi uống nước bình thường sau đó tôi ra về”.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 602/2023/DS-ST ngày 20/12/2023, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
- Buộc ông Dương Đức P1 phải trả cho ông Phạm Văn P, bà Võ Thị N số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 100.000.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc ông Dương Đức P1 phải trả cho ông Phạm Văn P, bà Võ Thị N số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và nợ lãi là 18.904.110 đồng, tổng cộng là 68.904.110 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Không chấp nhận yêu cầu: Buộc bị đơn phải trả tiền chi phí luật sư là 270.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với số tiền là 1.083.830.293 đồng, yêu cầu bồi thường tổn thất về mặt tinh thần là 36.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất do thu nhập thực tế bị mất là 60.000.000 đồng và yêu cầu công khai xin lỗi.
- Không chấp nhận yêu cầu: Buộc bà Trương Thị Minh A có nghĩa vụ liên đới với bị đơn trả tiền, bồi thường, công khai xin lỗi nguyên đơn.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:
- Không chấp nhận yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng và yêu cầu buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền 100.000.000 đồng do từ chối giao kết theo thỏa thuận tại điểm b, khoản 2 Điều 4 của hợp đồng cọc số công chứng 18017 ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Ngày 02/01/2024, nguyên đơn – ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 22/01/2024, bị đơn – ông Dương Đức P1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo, bị đơn giữ nguyên đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người kháng cáo – ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N do ông P đại diện trình bày: Ông đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện: Buộc bị đơn và bà Trương Thị Minh A liên đới phải trả tiền chi phí luật sư là 270.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với số tiền là 1.083.830.293 đồng, bồi thường tổn thất về mặt tinh thần là 36.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất do thu nhập thực tế bị mất là 60.000.000 đồng và yêu cầu công khai xin lỗi.
Người kháng cáo – ông Dương Đức P1 do ông Nguyễn Thành T1 đại diện trình bày: Bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Bị đơn không đồng ý yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng số tiền 100.000.000 đồng. Đối với khoản vay 50.000.000 đồng, bị đơn đã trả 15.000.000 đồng, chỉ còn nợ 35.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, yêu cầu nguyên đơn trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng và phạt vi phạm 100.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo các yêu cầu nói trên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung: Do kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở nên không chấp nhận, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng, các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm giữ nguyên, về án phí quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Trương Thị Minh A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Văn phòng C2 có đơn xin vắng mặt; người làm chứng – ông Phạm Hùng C vắng mặt; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1.1] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với số tiền là 1.083.830.293 đồng:
Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q để vay tiền và thế chấp tài sản là nhà đất số H đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm vay 26/6/2019, mục đích vay để mua bất động sản, thì ông bà phải có trách nhiệm thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Tranh chấp hợp đồng cọc nhà đất số B đường B, Phường A, quận G ngày 30/12/2019 giữa ông bà và bị đơn không có mối quan hệ nhân quả với việc ông P và bà N phải đóng tiền lãi cho các hợp đồng tín dụng ông đã ký kết trước đó với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q nói trên. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng số tiền 1.083.830.293 đồng là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật.
[2.1.2] Về yêu cầu chi phí luật sư là 270.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chứng cứ nguyên đơn giao nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình là Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 0104/HDDV-DS.2021 ngày 21/4/2021 giữa ông P và Văn phòng L – đại diện luật sư Đoàn Huy H với giá dịch vụ pháp lý là 120.000.000 đồng và Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 06/2023/HĐ-LEVY giữa Công ty L1 với ông Phạm Văn P với giá dịch vụ pháp lý là 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thừa nhận đã giao cho Văn phòng luật sư Trọng A1 số tiền 15.000.000 đồng và Công ty L1 10.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định, khi tiến hành khởi kiện theo quy định của pháp luật người khởi kiện có thể tự mình thực hiện hoặc mời luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Việc nguyên đơn ký hợp đồng với Văn phòng Luật sư Trọng A1 sau đó thanh lý hợp đồng và ký hợp đồng với Công ty Luật LEVY là do tự nguyện, tự thỏa thuận nên nguyên đơn phải chịu chi phí này theo quy định tại khoản 3 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ; do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải chịu chi phí luật sư 270.000.000 đồng là có cơ sở.
[2.1.3] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất do thu nhập thực tế bị mất 60.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền 36.000.000 đồng và yêu cầu bị đơn phải xin lỗi công khai của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, tại quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn hoàn toàn không chứng minh được bị đơn có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn, không cung cấp được bất cứ chứng cứ nào chứng minh bị tổn thất về tinh thần. Vì vậy, yêu cầu bồi thường tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, yêu cầu bị đơn phải xin lỗi công khai cũng như yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất do thu nhập thực tế bị mất của nguyên đơn không có cơ sở chấp nhận.
[2.1.4] Về yêu cầu buộc bà A cùng có trách nhiệm liên đới với ông P1 trả tiền, bồi thường và công khai xin lỗi nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 30/12/2019 thể hiện bên đặt cọc là ông Dương Đức P1 và bên nhận cọc là ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bản thân nguyên đơn cũng thừa nhận toàn bộ quá trình thỏa thuận ký hợp đồng cọc ngày 30/12/2019 chỉ có bị đơn là ông Dương Đức P1 thực hiện cùng nguyên đơn.
Tại giấy vay số tiền 50.000.000 đồng thể hiện người vay là ông P1. Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà A biết giao dịch đặt cọc và giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn và ông P1, đồng thời cũng không cung cấp được chứng cứ ông P1 sử dụng số tiền vay vào mục đích chung của vợ chồng ông P1, bà A.
Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bà A có trách nhiệm liên đới với bị đơn là có cơ sở.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
[2.2.1] Xét yêu cầu kháng cáo về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền phạt vi phạm hợp đồng đặt cọc là 100.000.000 đồng.
Khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định về Đặt cọc:
“1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.”
Khoản 1 Điều 427 Bộ luật Dân sự quy định về Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng
“1. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.”
Trường hợp này bị đơn chưa giao tiền cọc cho nguyên đơn nên không thỏa mãn điều kiện của quy định pháp luật về đặt cọc. Cấp sơ thẩm quyết định hủy hợp đồng đặt cọc là có cơ sở, tuy nhiên để giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng thì tại Hợp đồng đặt cọc ngày 30/12/2019 hoàn toàn không có một chế tài nào về việc phạt vi phạm hay bồi thường thiệt hại nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ đặt cọc; do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 100.000.000 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn sửa phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
[2.2.2] Xét yêu cầu kháng cáo về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và nợ lãi là 18.904.110 đồng, tổng cộng là 68.904.110 đồng.
Nguyên đơn và bị đơn xác nhận có việc vay và giao nhận số tiền 50.000.000 đồng; hai bên tranh chấp số tiền đã trả là 15.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P1 cho rằng vào khoảng cuối tháng 02/2020 ông có trả cho nguyên đơn số tiền 15.000.000 đồng, việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của ông Phạm Hùng C. Số tiền này là tiền ông C cho ông P1 mượn để trả cho ông P. Số tiền ông C cho ông P1 mượn có nhiều mệnh giá khác nhau là 500.000 đồng; 200.000 đồng và 100.000 đồng. Sau khi ông C đưa tiền thì ông P1 trả tiền cho ông P dưới sự chứng kiến của ông C. Sau khi nhận tiền ông P cho tiền vào giỏ rồi ông C, ông P1, ông P đi về.
Tại biên bản ghi lời khai được Công an quận G cung cấp, ông C lại khai rằng vào giữa tháng 3/2020 ông cho ông P1 vay số tiền 15.000.000 đồng để ông P1 trả cho ông P với mệnh giá tiền là 100.000 đồng. Sau khi ông C đưa tiền cho ông P1 thì ông P1 trả tiền cho ông P trước sự chứng kiến của ông C.
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của người làm chứng - ông Phạm Hùng C và lời khai của bị đơn có nhiều điểm mâu thuẫn về thời gian giao tiền, mệnh giá tiền và những hành vi của nguyên đơn và bị đơn sau khi nhận tiền. Để làm rõ những mâu thuẫn này, Tòa án sơ thẩm đã nhiều lần triệu tập ông C tới tòa để lấy lời khai, tham gia phiên đối chất, xét xử nhưng ông C không đến. Nguyên đơn cho rằng chưa hề nhận số tiền 15.000.000 đồng từ bị đơn.
Vì vậy, lời khai của ông C xác định chứng kiến việc bị đơn giao số tiền 15.000.000 đồng cho nguyên đơn không được Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là chứng cứ để chứng minh việc bị đơn đã giao cho nguyên đơn số tiền 15.000.000 đồng là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng là có cơ sở.
Về tiền lãi chậm trả: Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/3/2020 đến ngày 20/12/2023 với mức lãi suất là 10%/năm, xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 466, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Tiền lãi chậm thanh toán được tính như sau: 50.000.000 đồng x 10%/năm x từ ngày 10/3/2020 đến ngày 20/12/2023 (1.380 ngày) : 365 là 18.904.110 đồng.
Tổng cộng số tiền gốc và lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 68.904.110 đồng.
[2.2.3] Đối với yêu cầu của bị đơn về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, buộc nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn số tiền cọc 100.000.000 đồng và bồi thường số tiền 100.000.000 đồng do từ chối giao kết hợp đồng.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cấp sơ thẩm nhận định và quyết định chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng cọc của nguyên đơn là phù hợp nên yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng là không có cơ sở để chấp nhận. Bị đơn hoàn toàn không chứng minh được đã giao tiền cọc cho nguyên đơn đồng thời nguyên đơn cũng phủ nhận việc nhận tiền cọc; do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường số tiền 100.000.000 đồng do từ chối giao kết theo thỏa thuận tại điểm b, khoản 2 Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017 ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2 là có cơ sở cần giữ nguyên quyết định này của bản án sơ thẩm.
Từ các phân tích nói trên, Hội đồng xét xử xét có căn cứ không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn được miễn nộp án phí đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu cầu bồi thường chi phí luật sư, yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất do thu nhập thực tế bị mất không được chấp nhận là 57.414.909 đồng.
Bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng không được chấp nhận là 300.000 đồng.
Bị đơn phải chịu án phí cho số tiền yêu cầu nguyên đơn phải trả không được chấp nhận là 10.000.000 (mười triệu) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo biên lai thu số 0011882 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, bị đơn còn phải nộp 5.000.000 (năm triệu) đồng tiền án phí.
Bị đơn phải chịu án phí cho số tiền nợ gốc và lãi phải trả cho nguyên đơn là 3.445.205 (ba triệu, bốn trăm bốn mươi lăm ngàn, hai trăm lẻ năm) đồng.
Tổng cộng, bị đơn còn phải chịu 9.045.205 (chín triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn hai trăm lẻ năm) đồng tiền án phí.
Do không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Do chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014,
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn – ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn - ông Dương Đức P1.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 602/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
- Buộc ông Dương Đức P1 phải trả cho ông Phạm Văn P, bà Võ Thị N số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và nợ lãi là 18.904.110 đồng (mười tám triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười đồng), tổng cộng là 68.904.110 đồng (sáu mươi tám triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Dương Đức P1 phải trả cho ông Phạm Văn P, bà Võ Thị N số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 100.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu: Buộc bị đơn phải trả tiền chi phí luật sư là 270.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với số tiền là 1.083.830.293 đồng, yêu cầu bồi thường tổn thất về mặt tinh thần là 36.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất do thu nhập thực tế bị mất là 60.000.000 đồng và yêu cầu công khai xin lỗi.
- Không chấp nhận yêu cầu: Buộc bà Trương Thị Minh A có nghĩa vụ liên đới với bị đơn trả tiền, bồi thường, công khai xin lỗi nguyên đơn.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:
- Không chấp nhận yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt cọc số công chứng 18017, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng và yêu cầu buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền 100.000.000 đồng do từ chối giao kết theo thỏa thuận tại điểm b, khoản 2 Điều 4 của hợp đồng cọc số công chứng 18017 ngày 30/12/2019 tại Văn phòng C2.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 57.414.909 đồng (năm mươi bảy triệu bốn trăm mười bốn ngàn chín trăm lẻ chín đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 18.200.000 (mười tám triệu, hai trăm ngàn) đồng theo các biên lai đóng tiền tạm ứng án phí:
- - Số tiền 1.250.000 (một triệu, hai trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0028080 ngày 09/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0047600 ngày 19/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Số tiền 4.950.000 (bốn triệu, chín trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0049037 ngày 05/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng số tiền án phí nguyên đơn còn phải nộp là 39.214.909 (ba mươi chín triệu hai trăm mười bốn ngàn chín trăm lẻ chín) đồng.
Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng không được chấp nhận là 300.000 đồng.
Bị đơn phải chịu án phí cho số tiền yêu cầu nguyên đơn phải trả không được chấp nhận là 10.000.000 (mười triệu) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo biên lai thu số 0011882 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, bị đơn còn phải nộp 5.000.000 (năm triệu) đồng tiền án phí.
Bị đơn phải chịu án phí cho số tiền nợ gốc và lãi phải trả cho nguyên đơn là 3.445.205 (ba triệu, bốn trăm bốn mươi lăm ngàn, hai trăm lẻ năm) đồng.
Tổng cộng, bị đơn còn phải chịu 8.745.205 (tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm ngàn hai trăm lẻ năm) đồng tiền án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Phạm Văn P và bà Võ Thị N phải chịu án phí phúc thẩm mỗi người 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mỗi người 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông P và bà N đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0013336 và số AA/2023/0013335 cùng ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P và bà N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm
Ông Dương Đức P1 không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông P1 đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0013493 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Nơi nhận:
- - TAND tối cao;
- - TAND cấp cao;
- - VKSND TP.HCM;
- - Cục THADS TP.HCM;
- - TAND quận Gò Vấp;
- - Chi cục THADS quận Gò Vấp;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Vp, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Thu Hương
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án số 603/2024/DS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng vay tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 603/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng vay tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Sửa Bản án dân sự sơ thẩm
