|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 602/2024/DS-ST
Ngày: 19-9-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lệ Thu
- Bà Trương Thị Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 373/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 294/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng S
Trụ sở: Số 266 – 268 đường N, phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978 (Giấy ủy quyền số: 2827/2023/UQ-TGĐ ngày 02/5/2024 của Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng S).
Địa chỉ: Lầu 5, số 278 đường N, phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992
Thường trú: Đội 1, thôn V, xã Ân T, huyện H, tỉnh B; tạm trú: Số 6/1 đường L, khu phố 3, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Số 161 đường T, tổ 11, khu phố 4, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(ông Thân Lê Nguyên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/8/2023 của Ngân hàng S và quá trình giải quyết vụ án ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/10/2017, bà Nguyễn Thị T có ký với Ngân hàng S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T, Ngân hàng S đã đồng ý cấp cho bà T thẻ tín dụng loại Thẻ Visa Lady First; số thẻ: 486265 - 9598; hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T đã thanh toán cho Ngân hàng S số tiền 12.408.527 đồng, sau đó thì ngưng không thanh toán. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S), nên ngày 01/7/2020 Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 6.191.910 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9% (lãi suất trong hạn 2.6% x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S). Tính đến ngày 28/6/2024, bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng S tổng số tiền là 17.935.401 đồng (trong đó nợ gốc: 6.191.910 đồng, lãi quá hạn: 11.743.491 đồng).
Do bà Nguyễn Thị T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo thỏa thuận tại Điều 19 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S) nêu trên, nên Ngân hàng S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T phải trả ngay cho Ngân hàng S (theo Bảng tóm tắt sao kê khách hàng Nguyễn Thị T; số thẻ: 486265-9598, tính đến ngày 28/6/2024, tổng số tiền là 17.935.401 đồng (trong đó nợ gốc 6.191.910 đồng, lãi quá hạn 11.743.491 đồng) và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng nêu trên.
- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bà Nguyễn Thị T thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng bà T không có mặt theo giấy triệu tập, cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ cho bà Nguyễn Thị T thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (lần 2), nhưng bà T vẫn không có mặt, nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có Văn bản trình bày ý kiến: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T phải trả ngay cho Ngân hàng S (theo Bảng tóm tắt sao kê khách hàng Nguyễn Thị T; số thẻ: 486265-9598) tính đến ngày 19/9/2024, tổng số tiền là 18.603.468 đồng (trong đó nợ gốc 6.191.910 đồng, lãi quá hạn 12.411.558 đồng) và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa (lần 2) nhưng vắng mặt không lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ, giao nhận thông báo thụ lý vụ án đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 85 và Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa; ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả các khoản nợ phát sinh từ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận 7, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Thân Lê Nguyên có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S về việc buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng S tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 18.603.468 đồng (trong đó nợ gốc 6.191.910 đồng, lãi quá hạn 12.411.558 đồng). Trả một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/10/2017; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S, Ngân hàng S đã cấp cho bà Nguyễn Thị T thẻ tín dụng loại Thẻ Visa Lady First; số thẻ: 486265 - 9598; hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
[3.2] Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê khách hàng Nguyễn Thị T, số thẻ: 486265 – 9598 ngày 19/9/2024 của Ngân hàng S xác định bà Nguyễn Thị T đã sử dụng Thẻ Visa Lady First; số thẻ: 486265 – 9598 thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị T đã thanh toán cho Ngân hàng S được số tiền là 12.408.527 đồng. Tính đến ngày 19/9/2024, bà T còn nợ Ngân hàng S tổng số tiền là 18.603.468 đồng (trong đó nợ gốc 6.191.910 đồng, lãi quá hạn 12.411.558 đồng). Như vậy, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị T có sử dụng thẻ tín dụng để thực hiện các giao dịch và đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng như đã nêu trên, nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S là có căn cứ được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng S được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 930.173 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 91, Điểu 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S.
Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng S tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 18.603.468 (mười tám triệu sáu trăm lẻ ba ngàn bốn trăm sáu mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc 6.191.910 đồng và lãi quá hạn 12.411.558 đồng. Các bên đương sự thi hành bản án tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 20/9/2024, cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị T còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng - Thẻ Visa Lady First, số thẻ: 486265-9598 (theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/10/2017; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S).
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 930.173 (chín trăm ba mươi ngàn một trăm bảy mươi ba) đồng.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 374.334 (ba trăm bảy mươi bốn ngàn ba trăm ba mươi bốn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0037809 ngày 02/01/2024 (Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 6; mã thông báo: ZEAR2ZB43Q ngày 02/01/2024) của Chi cục Thi hành án dân sự quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân TP.HCM;
- - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
- - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án, VP. (Thúy Loan)
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Phạm Văn Thạnh |
Bản án số 602/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 602/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trọng
