Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 602/2024/DS-PT

Ngày: 26/9/2024

V/v tranh chấp Hợp đồng dân sự.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Anh

Bà Trần Thị Liên Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 107/2024/TLPT-DS ngày 22/03/2024, về việc “ Tranh chấp hợp đồng dân sự”.

Do bản án số 223/2023/DS-ST ngày 06/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 406/2024/QĐ-PT ngày 21/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 524/2024/QĐPT-HPT ngày 9/9/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Phương Lan, sinh năm 1970;

HKTT: Thôn Ngọc Chúc 3, xã Chí Đàm, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

Địa chỉ liên hệ: Tầng 3, số 81 phố Tuệ Tĩnh, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Văn Tường (Giấy ủy quyền ngày 29/4/2022, số công chứng: 540/2022/GUQ, Quyển số: 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Lê Hòa, Thành phố Hà Nội).

(Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Tiến Ngọc- Văn phòng Luật sư Lê & cộng sự - Đoàn Luật sư thành phố Hà nội.

(Có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Hoàn, sinh năm 1975

Hộ khẩu thường trú: Thôn An Ký Đông, xã Quỳnh Minh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú cuối cùng: Số 51 ngõ 10 Tôn Thất Tùng, phường Khương Thượng, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hải Đăng, sinh năm 1975;

    HKTT: Phòng 502 17T11 khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

    (Có mặt).

  2. Văn phòng công chứng Nguyễn Hương

    Địa chỉ: LK6C – 16 Làng Việt kiều Châu Âu - Khu đô thị Mỗ Lao, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

    (Vắng mặt).

  3. Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

    Trụ sở: Số 25 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn Tần – Chủ tịch HĐQT

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc Tuấn (Giấy ủy quyền số 359/2018/UQ-SeABank và Giấy ủy quyền số 10676/2021/UQ-SeABank ngày 14/7/2021).

    (Có mặt).

  4. Ông Nguyễn Đức Bang, sinh năm 1973
  5. Bà Đỗ Thị Thêm, sinh năm 1972
  6. Chị Nguyễn Bích Thuận, sinh năm 1998
  7. Anh Bùi Tiến Đạt, sinh năm 1997
  8. và hai con của chị Thuận, anh Đạt sinh năm 2017, 2021 (do chị Thuận và anh Đạt là đại diện).

    Cùng địa chỉ: Số 38 ngách 366/22 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

    (Vắng mặt).

5. Văn phòng công chứng Hoàng Cầu; Trụ sở: Số 23 ngõ 51 phố Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đ, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà Phạm Thị Phương Lan và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn là chỗ quen biết, có mối quan hệ làm ăn lâu năm. Đầu năm 2016, bà Hoàn đề cập với bà Lan về việc gặp vấn đề khó khăn trong kinh doanh. Đồng thời, bà Hoàn cũng đề cập với bà Lan về khoản nợ của mình tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Láng Hạ, vay theo hình thức thế chấp thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại số 21 dãy A khu TT K94 BTL thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận số 10119370475 do UBND Thành phố Hà Nội cấp ngày 02/12/2002. Do mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên bà Hoàn có đề nghị bà Lan thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Hoàn đối với khoản nợ tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á và đổi lại bà Lan được quyền định đoạt quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

Ngày 24/5/2016, bà Phạm Thị Phương Lan và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn đã ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1015/2016/HĐUQ tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu (trụ sở: số 23, ngõ 51 phố Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đ, Thành phố Hà Nội). Theo đó, bà Lan nhận ủy quyền thực hiện các nghĩa vụ tài chính của bà Hoàn và thực hiện các thủ tục xóa thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 3199.2015/HĐTC lập tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tú, Thành phố Hà Nội ngày 09/12/2015 và Hợp đồng tín dụng cá nhân số 1534300018/HĐTD ngày 09/12/2015. Sau khi thực hiện xong thủ tục xóa thế chấp, bà Lan có toàn quyền cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đối với nhà đất tại địa chỉ 21 dãy A khu TTK94 BTL Thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội. Ngoài ra, bà Lan và bà Hoàn còn có thỏa thuận về việc bà Lan sẽ cho bà Hoàn vay tiền và khi bà Hoàn trả xong số tiền đã vay thì hai bên tiến hành làm thủ tục xóa Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1015/2016/HĐUQ.

Ngày 25/5/2016, bà Lan đã cho bà Hoàn vay 1 tỷ đồng thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản: Nguyễn Thị Kim Hoàn, số tài khoản: 1220205153776 tại Ngân hàng Agribank chi nhánh Long Biên. Hàng tháng, bà Hoàn trả gốc 100.000.000 đồng và lãi đối với số tiền vay này, thời hạn vay là 10 tháng. Đến đầu tháng 3 năm 2017, do gặp khó khăn trong việc kinh doanh, nên bà Hoàn tiếp tục đề nghị bà Lan cho vay tiền với thỏa thuận giống như lần trước: khi bà Hoàn trả xong số tiền vay thì hai bên sẽ tiến hành làm thủ tục hủy giấy ủy

quyền. Do chỗ bạn bè làm ăn lâu năm nên bà Lan đã đồng ý cho vay. Ngày 15/3/2017, bà Lan đã chuyển 800.000.000 đồng cho bà Hoàn qua số tài khoản 1506205097930 tại Ngân hàng Agribank chi nhánh Tây Hồ. Theo thỏa thuận tại Biên bản nhận tiền ngày 15/3/2017, hàng tháng, bà Hoàn trả cho bà Lan số tiền gốc là 100.000.000 đồng và lãi suất. Nếu bà Hoàn trả hết cả lãi và gốc trong thời hạn 8 tháng kể từ ngày vay tiền thì hai bên sẽ làm thủ tục xóa ủy quyền. Tuy nhiên, hết thời hạn trả tiền, bà Lan vẫn không thấy bà Hoàn trả nên đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu bà Hoàn trả tiền nhưng bà Hoàn khất thêm một thời gian để xoay sở.

Đến đầu năm 2019, sau nhiều lần thúc giục bà Hoàn trả tiền nhưng vẫn không thấy bà Hoàn trả tiền. Ngày 19/4/2019, khi bà tiến hành các thủ tục để xóa đăng ký giao dịch bảo đảm trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10119370475 nêu trên thì được biết: Ngày 24/02/2017, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn đã ký Văn bản cam kết số công chứng 357/VBCK với ông Nguyễn Hải Đăng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hương. Tại Văn bản cam kết, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn hứa chuyển nhượng nhà đất tại địa chỉ 21 dãy A khu TTK94 Bộ tư lệnh Thông tin xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội cho ông Đăng sau khi bà Hoàn thực hiện xong thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm.

Như vậy, việc bà Hoàn chưa trả tiền gốc và lãi cho bà Lan, đồng thời bà Hoàn thực hiện việc ký Văn bản cam kết với ông Nguyễn Hải Đăng trong khi Hợp đồng ủy quyền công chứng số 1015/2016/HĐUQ đang có hiệu lực là hành vi xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Lan - người có quyền định đoạt nhà đất nêu trên sau khi xóa đăng ký thế chấp giao dịch bảo đảm theo điều 2 Hợp đồng ủy quyền công chứng số 1015/2016/HĐUQ, là hành vi vi phạm 2 nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng theo quy định tại Điều 274 Bộ luật dân sự 2015. Đồng thời, việc ký kết Văn bản cam kết số công chứng 357/VBCK được ký kết giữa ông Nguyễn Hải Đăng và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn vi phạm Điều 7 Luật Công chứng; Điều 123, Điều 127 Bộ luật dân sự 2015.

Vì vậy, bà Phạm Thị Phương Lan khởi kiện bà Nguyễn Thị Kim Hoàn, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim Hoàn chấm dứt hành vi xâm phạm quyền định đoạt tài sản là nhà đất tại địa chỉ 21 dãy A khu TTK94 BTL Thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội.
  2. Yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đ tuyên Văn bản cam kết số công chứng 357/VBCK được ký kết vào ngày 24/02/2017 giữa ông Nguyễn Hải Đăng

và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hương là vô hiệu.

Ngày 26/5/2022, Tòa án đã nhận được đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Phương Lan (do anh Chu Văn Tường ký đơn) với nội dung:

  1. Yêu cầu TAND quận Đ, Thành phố Hà Nội tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1015/2016/HĐUQ ký kết ngày 24/05/2016 giữa Phạm Thị Phương Lan và Nguyễn Thị Kim Hoàn vô hiệu do giả tạo.
  2. Yêu cầu TAND quận Đ, Thành phố Hà Nội buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoàn hoàn trả cho bà Phạm Thị Phương Lan số tiền 800.000.000 VNĐ (Tám trăm triệu đồng) đã vay.
  3. Yêu cầu TAND quận Đ, Thành phố Hà Nội tuyên bố Văn bản cam kết số công chứng 357/VBCK được ký kết vào ngày 24/02/2017 giữa ông Nguyễn Hải Đăng và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn lập tại văn phòng công chứng Nguyễn Hương là vô hiệu.

*Theo các văn bản gửi Tòa án và biên bản ghi ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Hoàn có quan điểm như sau: Đối với Hợp đồng ủy quyền công chứng số 1015/2016/HĐUQ ký kết ngày 24/05/2016 giữa Phạm Thị Phương Lan và Nguyễn Thị Kim Hoàn, bà Hoàn yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng này.

Đối với khoản nợ 800.000.000 đồng đối với bà Lan: bà Hoàn xác nhận có vay của bà Phạm Thị Phương Lan 800.000.000 đồng theo biên bản nhận tiền ngày 15/3/2017 bà tự viết (chứng cứ bà Lan đã nộp cho Tòa án, bà Hoàn xác nhận đây là bản viết tay của bà). Nhưng sau đó bà đã trả toàn bộ số tiền trên cho bà Lan. Đối với chứng cứ chứng minh việc trả nợ, bà sẽ cung cấp cho Tòa án.

Đối với số tiền nhận từ ông Nguyễn Hải Đăng theo văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (số công chứng: 357/VBCK. Quyển số 01/2017 TP/CC-SCC/HĐGD): Bà xác nhận bà chỉ nhận từ ông Đăng 400.000.000 đồng nhưng đã chuyển trả lại cho ông Đăng toàn bộ số tiền trên. Chứng cứ chứng minh bà sẽ nộp lại cho Tòa án. Bà yêu cầu Tòa án xem xét hủy văn bản cam kết này.

Đối với chứng từ Ngân hàng ông Đăng nộp cho Tòa án về số tiền 1.250.000.000 đồng ông Đăng đã chuyển cho bà, bà khẳng định việc chuyển tiền này không liên quan đến văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại số 21 dãy A khu TT K94 BTL Thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội. Tài liệu chứng cứ chứng minh bà sẽ nộp lại cho Tòa án.

Đối với khoản vay tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, bà xác nhận có ký hợp đồng tín dụng cá nhân số 1534300018/HĐTD ngày 09/12/2015, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 3199.2015/HĐTC, quyền số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2015 và hợp đồng thế chấp sửa đổi lần 1 ngày 30/01/2016.

Bà xác nhận tính đến ngày 09/7/2021, bà còn nợ Ngân hàng TMCP Đông Nam Á tổng số tiền 1.961.175.177 đồng. Trong đó: nợ gốc: 1.150.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 408.118.126 đồng; nợ lãi quá hạn: 403.057.045 đồng. Bà xác định bà có trách nhiệm trả khoản nợ trên cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải Đăng trình bày: Khoảng năm 2017, do mối quan hệ quen biết từ trước nên ông và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn có giao dịch mua bán thửa đất tại số 21 dãy A khu TT K94 BTL thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, do thửa đất của bà Hoàn đang thế chấp tại Ngân hàng nên bà Hoàn có nói với ông là chỉ cần lập Văn bản cam kết chuyển nhượng rồi sau đó bà Hoàn sẽ giải chấp và làm thủ tục sang tên cho ông, việc lập Văn bản có Văn phòng công chứng thực hiện nên bà Hoàn bảo ông cứ yên tâm. Do tin tưởng bà Hoàn nên ngày 24/02/2017 ông đã cùng bà Hoàn đến Văn phòng công chứng Nguyễn Hương để lập và công chứng Văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với nội dung: “2. Bên A đồng ý chuyển nhượng, Bên B đồng ý nhận chuyển nhượng toàn bộ bất động sản nêu trên sau khi bất động sản được giải tỏa thế chấp với các điều kiện chuyển nhượng như sau:

- Giá chuyển nhượng: 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) tiền Việt Nam hiện hành.

- Trong vòng 03 (ba) tháng kể từ ngày ký văn bản cam kết này, Bên A có nghĩa vụ thực hiện việc giải tỏa thế chấp tài sản nêu trên tại các cơ quan có thẩm quyền cả hai bên sẽ tiến hành ký Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản nêu trên tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hương - thành phố Hà Nội. Khi đó, Bên B sẽ thanh toán nốt cho Bên A số tiền còn lại. Nếu hết thời hạn thỏa thuận nêu trên mà Bên A không thực hiện việc chuyển nhượng bất động sản nêu trên cho Bên B thì Bên A phải trả lại cho Bên B số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).”

Văn bản cam kết này đã được Công chứng viên Phạm Thị Thu Nga công chứng tại số công chứng 357/VBCK, Quyển số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/02/2017. Sau khi ký Văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên, ông mới biết trước đó, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn đã ký Hợp đồng ủy quyền cho bà Phạm Thị Phương Lan để bà Lan thay mặt bà Hoàn giải chấp và toàn quyền định đoạt thửa đất nêu trên. Văn bản ủy

quyền đã được công chứng số 1015/2016/HĐUQ; Quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/5/2016 do Công chứng viên Lê Phú Thịnh thực hiện.

Đến tháng 06 năm 2017, mặc dù đã quá thời hạn cam kết chuyển nhượng (03 tháng kể từ ngày 24/02/2017) nhưng bà Hoàn không thực hiện thủ tục giải tỏa thế chấp tại Ngân hàng để thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho ông và cũng không trả lại tiền cho ông theo nội dung tại Văn bản cam kết mà hai bên đã thỏa thuận. Sau đó, ông đã nhiều lần đề nghị bà Hoàn trả tiền nhưng bà Hoàn đều không trả.

Nhận thấy vụ việc này có sự cấu kết giữa bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và Văn phòng công chứng Nguyễn Hương để thực hiện lập và công chứng Văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 24/02/2017 trong khi trước đó bà Nguyễn Thị Kim Hoàn đã lập Văn bản ủy quyền cho bà Phạm Thị Phương Lan được định đoạt thửa đất nêu trên ngày 24/5/2016 tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu văn bản này vẫn đang còn hiệu lực. Hành vi cấu kết giữa bà Hoàn và Văn phòng công chứng Nguyễn Hương đã gây thiệt hại rất lớn cho ông. Nên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu độc lập sau:

Thứ nhất, ông không đồng ý với quan điểm của bà Lan về việc đề nghị Tòa án yêu cầu hủy bỏ văn bản cam kết chuyển nhượng giữa ông và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn đã ký tại phòng công chứng Nguyễn Hương ngày 24/02/2017.

Thứ hai, đề nghị bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và Văn phòng công chứng Nguyễn Hương phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) mà ông đã trả cho bà Hoàn theo Giấy nhận tiền ngày 24/02/2017, Giấy chuyển tiền tại Ngân hàng TPBank ngày 24/02/2017.

Thứ ba, đề nghị bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và Văn phòng công chứng Nguyễn Hương phải có trách nhiệm liên đới để bồi thường thiệt hại cho ông do hành vi lập công chứng Văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trái pháp luật, gây thiệt hại cho ông.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đông Nam Á do ông Phạm Ngọc Tuấn là đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim Hoàn ký kết Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1534300018/HĐTD ngày 09/12/2015 và Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1603000010/HĐTD ngày 30/01/2016 với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á với nội dung cụ thể của các hợp đồng như sau:

  • Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1534300018/HĐTD ngày 09/12/2015:
    • Số tiền vay: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn).
    • Mục đích vay: Thanh toán một phần bù đắp tiền mua nhà.
  • Thời hạn: 120 tháng kể từ ngày 11/12/2016 đến ngày 10/8/2026.
  • Lãi suất: Lãi suất cho vay bằng lãi suất VNĐ kỳ hạn 13 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân + Biên độ lãi suất 4,2 %/năm + giảm trừ lãi suất (nếu có)
  • Lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với số dư nợ gốc.

Thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 11/12/2015, SeABank Láng Hạ đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn theo 01 Giấy nhận nợ với tổng số tiền nhận nợ: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn).

  • Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1603000010/HĐTD ngày 30/01/2016:
    • Số tiền vay: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn).
    • Mục đích vay: Thanh toán tiền mua sắm đồ dùng phục vụ đời sống gia đình.

Thời hạn: 60 tháng kể từ ngày 01/02/2016 đến ngày 01/02/2021.

  • Lãi suất: Lãi suất cho vay bằng Lãi suất VNĐ kỳ hạn 13 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân + Biên độ lãi suất 4,6 %/năm + giảm trừ lãi suất (nếu có).
  • Lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với số dư nợ gốc .

Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 01/02/2016, SeABank Láng Hạ đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn theo 01 Giấy nhận nợ với tổng số tiền nhận nợ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn).

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Hoàn đã thế chấp Quyền sử dụng 42,9 m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số 1, tại địa chỉ: Số 21, dãy A khu TT K94 BTL Thông tin, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10119370475, hồ sơ gốc số: 8230.2002.QĐUB/369.2003 do UBND thành phố Hà Nội cấp ngày 02/12/2002, đã đăng ký sang tên cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội - Chi nhánh quận Long Biên ngày 04/12/2015. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 3199.2015/HĐTC, quyển số: 01 TP/CC-SC/HĐGD ngày 09/12/2015 và Hợp đồng thế chấp (sửa đổi lần 1) số công chứng 231.2016/HĐTC, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/01/2016 ký tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Tú – thành phố Hà Nội. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng: Kể từ khi khoản vay được giải ngân bà Nguyễn Thị Kim Hoàn thường xuyên trả nợ không đúng hạn và mới thanh toán được 249.999.994 đồng nợ gốc và 226.949.186 đồng nợ lãi. Đến nay bà Nguyễn Thị Kim Hoàn không thực hiện việc thanh toán nợ theo đúng cam kết. Vì vậy, căn cứ các thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, SeABank đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà Nguyễn Thị Kim Hoàn sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến ngày 09/07/2021, dư nợ của bà Hoàn tại SeABank cụ thể như sau:

  • Nợ gốc: 1.150.000.006 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 408.118.126 đồng
  • Nợ lãi quá hạn: 403.057.045 đồng
  • Tổng nợ: 1.961.175.177 đồng.

Nay SeABank yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc Bên vay là bà Nguyễn Thị Kim Hoàn thanh toán cho SeABank khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1534300018HĐTD ngày 09/12/2015 và Hợp đồng tín dụng cá nhân số:: 1603000010/HĐTD ngày 30/01/2016 tạm tính đến ngày 09/07/2023 là 1.961.175.177 đồng trong đó: Nợ gốc là: 1.150.000.006 đồng. Nợ lãi trong hạn là 408.118.126 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 403.057.045 đồng;
  2. Buộc bên vay là bà Nguyễn Thị Kim Hoàn phải tiếp tục trả nợ cho SeABank số tiền nợ lãi, tiền phạt, phí phát sinh theo lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1534300018/HĐTD ngày 09/12/2015; Hợp đồng tín dụng cá nhân số:1603000010/HĐTD ngày 30/01/2016 và các Giấy nhận nợ kể từ ngày 10/07/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Kể từ ngày Quyết định/Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị Kim Hoàn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gốc, lãi phát sinh thì SeABank được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, bán/chuyển nhượng tài sản bảo đảm của khoản vay nêu trên để thu hồi nợ cho SeABank.
  4. Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho SeABank, thì bà Nguyễn Thị Kim Hoàn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho SeABank cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

* Tại biên bản làm việc ngày 06/9/2022, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức Bang và bà Đỗ Thị Thêm thống nhất trình bày: Ông bà là chủ sử dụng đất hợp pháp tại địa chỉ số 21 dãy A khu TT K94 BTL

thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (Nay là số 38 ngách 366/22 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội). Khoảng cuối năm 2015 đầu năm 2016 ông bà có cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn mượn giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà ở và sử dụng đất ở đối với diện tích đất trên. Sau đó có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử hữu nhà ở và sử dụng đất ở với bà Hoàn để thực hiện thủ tục vay tiền tại Ngân hàng. Bà Hoàn là người chịu trách nhiệm trả tiền nợ gốc và lãi hàng tháng. Thời điểm bà Hoàn thực hiện thủ tục vay vốn Ngân hàng thì phía Ngân hàng có cử đại diện đến xem xét thẩm định đối với tài sản thế chấp là nhà đất mà ông bà đang ở. Vì vậy mà việc bà Hoàn thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng thì ông bà có biết. Năm 2016 ông bà xây nhà trên diện tích đất nêu trên thành hiện trạng nhà 4 tầng, 1 tum như hiện nay và ở ổn định từ đó đến nay. Việc vay nợ giữa bà Hoàn và Ngân hàng thuộc trách nhiệm của bà Hoàn với Ngân hàng. Ông bà không liên quan gì.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Nguyễn Hương có văn bản gửi Tòa án với nội dung: Ngày 24/02/2017, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và ông Nguyễn Hải Đăng có đến Văn phòng công chứng Nguyễn Hương để yêu cầu chứng nhận Văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tại phòng Công chứng, bà Hoàn đã trình bày với Công chứng viên: Bà là chủ sử dụng toàn bộ thửa đất số 8 và tài sản gắn liền với đất tại số 21 dãy A khu TT K94 BTL thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở số 10119370475, hồ sơ gốc số 8230.2002QĐUB/369.2003 do UBND Thành phố Hà Nội cấp ngày 02/12/2002 (sau đây gọi là bất động sản), hiện bất động sản nêu trên đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Láng Hạ và ngày 24/5/2016, bà Hoàn đã lập Hợp đồng ủy quyền tại Phòng công chứng Hoàng Cầu để ủy quyền cho bà Phạm Thị Phương Lan với nội dung ủy quyền là: Bà Lan được tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để xóa đăng ký giao dịch bảo đảm trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” số 10119370475 và được nhận bản chính của Giấy chứng nhận đó tại cơ quan có thẩm quyền.

Nay, ông Đăng và bà Hoàn thống nhất và cam kết: Sau khi bất động sản được giải tỏa thế chấp sẽ thực hiện việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng bất động sản nêu trên.

Sau khi thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng và khai thác thông tin yêu cầu công chứng, căn cứ vào quy định của Luật công chứng 2014, BLDS 2015 và các văn bản có liên quan đến yêu cầu công chứng của ông Đăng và bà Hoàn nên Công chứng viên của Văn phòng đã chấp nhận yêu cầu công chứng.

Điều 386 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

  1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
  2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.

Văn bản cam kết chuyển nhượng số công chứng 357/VBCK, quyển số 01/2017.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/02/2017 được hiểu là một đề nghị giao kết hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Hoàn và ông Đăng. Khi thực hiện đề nghị giao kết hợp đồng ông Đăng đã biết Bất động sản thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Hoàn đang là tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ với Ngân hàng Đông Nam Á (Seabank) và số tiền 1.400.000.000 đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) mà ông Đăng chuyển cho bà Hoàn được coi là số tiền ứng trước.

Đây chỉ là một đề nghị giao kết hợp đồng nên không cần phải có ý kiến của Ngân hàng hoặc người đại diện (theo uỷ quyền) và cũng không cần xuất trình bản Hợp đồng ủy quyền bởi vì:

Thứ nhất: Việc bà Hoàn và ông Đăng cam kết chuyển nhượng Bất động sản nói trên chỉ được thực hiện sau khi Bà Hoàn tất toán với Ngân hàng, việc này không làm hạn chế quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với tài sản đang thế chấp và không rơi vào các trường hợp phải có sự đồng ý bằng văn bản của Ngân hàng như quy định trong Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng Seabank;

Thứ hai: Việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có thể có hoặc không. Nếu các bên không ký kết hợp đồng sau một thời hạn nhất định thì việc đề nghị giao kết hợp đồng không thành công. Ví dụ: hết thời hạn đề nghị giao kết (03 tháng) bà Hoàn không thực hiện việc tất toán với Ngân hàng hoặc bà Hoàn thay đổi ý định việc chuyển nhượng bất động sản với lý do thay đổi về giá cả, phương thức thanh toán.....

Thứ ba: Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp: Hết thời hạn trả lời chấp nhận (K3 Đ391 BLDS 2015). Theo đó, trong vòng 03 (ba) tháng kể từ ngày ký Văn bản cam kết nói trên, bà Hoàn có nghĩa vụ thực hiện việc giải tỏa thế chấp tài sản và các bên sẽ giao kết Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản. Nhưng hết thời hạn đã nêu trong Văn bản cam kết, bà Hoàn vẫn không thực hiện việc chuyển nhượng Bất động sản cho ông Đăng thì đề nghị giao kết hợp đồng sẽ chấm dứt và bà Hoàn phải trả lại cho ông Đăng số tiền là 1.400.000.000 đồng.

Ngoài ra, để góp phần bảo đảm an toàn pháp lý, hạn chế rủi ro cho việc công chứng viên chứng nhận các hợp đồng, giao dịch, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Sở Tư pháp, Hội Công chứng thành phố Hà Nội và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn thành phố xây dựng Hệ thống UCHI, cho phép các tổ chức công chứng tiếp nhận, quản lý, lưu trữ, tra cứu thông tin các hợp đồng, giao dịch tạo nên lịch sử giao dịch đầy đủ của tài sản, là cơ sở đáng tin cậy cho công chứng viên xác định tính hợp lệ của giao dịch tiếp theo liên quan đến tài sản. Do Văn phòng Công chứng Hoàng Cầu đưa lên Hệ thống Uchi không đầy đủ, thiếu thông tin đã dẫn đến việc Công chứng viên của Văn phòng khi tra cứu thông tin giao dịch đối với bất động sản mà bà Hoàn cam kết sẽ chuyển nhượng cho ông Đăng thì thấy Hợp đồng ủy quyền có nội dung: Tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để xóa đăng ký giao dịch bảo đảm trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” số 10119370475 và được nhận bản chính của Giấy chứng nhận đó tại cơ quan có thẩm quyền.

Hơn nữa, trên thực tế tại thời điểm Công chứng viên của Văn phòng chứng nhận Văn bản cam kết giữa ông Đăng và bà Hoàn thì người được uỷ quyền chưa thực hiện các công việc mà bà Hoàn uỷ quyền. Căn cứ vào bản chất của Hợp đồng uỷ quyền là làm thay, làm hộ xuất phát từ việc tương trợ giúp đỡ nhau. Cho nên việc bà Hoàn và ông Đăng thực hiện việc đề nghị giao kết hợp đồng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, Công chứng viên chứng nhận Văn bản cam kết chuyển nhượng số 357/VBCK.quyển số 01/2017.TP/CC-SCC/HĐGD là đúng quy trình và phù hợp với qui định của pháp luật. Và việc ông Đăng yêu cầu Văn phòng công chứng Nguyễn Hương liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Đăng là hoàn toàn không có cơ sở và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu này của ông Đăng.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Hoàng Cầu trình bày: Quan điểm nhất quán của Văn phòng Công chứng Hoàng Cầu đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không chấp nhận các nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Phương Lan liên quan đến yêu cầu tuyên bố “Hợp đồng ủy quyền” giữa bà Nguyễn Thị Kim Hoàn với bà Phạm Thị Phương Lan Số công chứng: 1015/2016; Quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.

Văn phòng công chứng Hoàng Cầu khẳng định: Việc Văn phòng công chứng Hoàng Cầu đã chứng nhận “Hợp đồng ủy quyền” đề ngày 24/05/2016 không có sai phạm gì, không có yếu tố nào dẫn đến bị vô hiệu theo pháp luật hiện hành. Nếu bà Lan không đưa ra được chứng cứ xác đáng để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, thì đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà Lan.

Tại bản án số 223/2023/DS-ST ngày 06/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Phương Lan đối với bà Nguyễn Thị Kim Hoàn về việc tuyên Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1015/2016/HĐUQ lập tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu vô hiệu và thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Biên bản nhận tiền ngày 15/3/2017 của bà Nguyễn Thị Kim Hoàn.

    Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1015/2016/HĐUQ; quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu ngày 24/5/2016 giữa bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và bà Phạm Thị Phương Lan vô hiệu.

    Buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoàn phải trả cho bà Phạm Thị Phương Lan số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).

  2. Đình chỉ đối với yêu cầu buộc bà Hoàn phải trả cho bà Lan số tiền lãi đối với số tiền nợ gốc 800.000.000 đồng do đã hết thời hiệu khởi kiện.
  3. Công nhận sự thỏa thuận của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn. Sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

    Xác nhận bà Nguyễn Thị Kim Hoàn còn nợ Ngân hàng TMCP Đông Nam Á tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 2.428.919.163 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.006; Nợ lãi trong hạn: 527.215.430 đồng; Nợ lãi quá hạn: 901.703.727 đồng.

    Bà Nguyễn Thị Kim Hoàn có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á số tiền trên theo lộ trình như sau:

    • Ngày 25/11/2023 thanh toán 200.000.000 đồng.
    • Ngày 25/12/2023 thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi còn lại.

    Bà Nguyễn Thị Kim Hoàn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á số tiền nợ lãi, tiền phạt, phí phát sinh theo lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1534300018/HĐTD ngày 09/12/2015; Hợp đồng tín dụng cá nhân số: 1603000010/HĐTD ngày 30/01/2016 và các Giấy nhận nợ kể từ ngày 31/8/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  4. Trường hợp bà Hoàn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo đúng cam kết nêu trên, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á được quyền yêu cầu thi hành án kê biên, phát mại tài sản là Quyền sử dụng 42,9 m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số 1, tại địa chỉ: Số 21, dãy A khu TT K94 BTL thông tin, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10119370475, hồ sơ gốc số: 8230.2002.QĐUB/369.2003 do UBND thành phố Hà Nội cấp ngày 02/12/2002, đã đăng ký sang tên cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội - Chi nhánh quận Long Biên ngày 04/12/2015 theo Hợp

đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 3199.2015/HĐTC, quyển số: 01 TP/CC-SC/HĐGD ngày 09/12/2015 và Hợp đồng thế chấp (sửa đổi lần 1) số công chứng 231.2016/HĐTC, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/01/2016 ký tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Tú – thành phố Hà Nội.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Kim Hoàn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á. Trường hợp số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Hoàn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á.

Khi có quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc các tổ chức, cá nhân hiện đang chiếm hữu, sử dụng nhà đất tại số 21, dãy A khu TT K94 BTL thông tin, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (Nay là số 38 ngách 366/22 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội) phải di dời khỏi nhà đất nêu trên để đảm bảo việc thi hành án.

4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hải Đăng. Buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoàn phải trả cho ông Nguyễn Hải Đăng số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).

Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 15/11/2023 ông Nguyễn Hải Đăng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 223/2023/DS-ST ngày 06/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải Đăng vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn là bà Phạm Thị Phương Lan sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích nội dung vụ án có quan điểm: Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử Nguyên đơn nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lan, đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp

luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hải Đăng. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm tính án phí không đúng, Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa về cách tuyên và về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải Đăng làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn là bà Phạm Thị Phương Lan; Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim Hoàn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Văn phòng công chứng Nguyễn Hương; Ông Nguyễn Đức Bang, bà Đỗ Thị Thêm, chị Nguyễn Thị Bích Thuận, anh Bùi Tiến Đạt; Văng phòng công chứng Hoàng Cầu đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hải Đăng, Hội đồng xét xử xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 09/12/2015 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn ký Hợp đồng tín dụng cá nhân số 1534300018/HĐTD và ngày 30/01/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn ký Hợp đồng tín dụng cá nhân số 1603000010/HĐTD, theo đó Ngân hàng cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn vay tổng số tiền là 1.400.000.000 đồng. Trong đó số tiền vay của Hợp đồng số 1534300018/HĐTD là 1.200.000.000 đồng và Hợp đồng tín dụng số 1603000010/HĐTD là 200.000.000 đồng. Xét thấy việc ký kết hợp đồng của các bên được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng ngày 11/12/2015 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á đã giải chấp cho bà Hoàn số tiền 1.200.000.000 đồng và ngày 01/02/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á đã giải chấp cho bà Hoàn số tiền 200.000.000 đồng.

Các đương sự xác nhận bà Hoàn mới thanh toán trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á số tiền 249.999.994 đồng nợ gốc và 226.949.186 đồng nợ lãi.

Tính đến ngày 23/8/2023 bà Hoàn còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là: 2.428.919.163 đồng. Trong đó nợ gốc là 1.000.000.006 đồng; nợ lãi trong hạn là: 527.215.430 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 901.703.727 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên ngày 09/12/2015, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và Ngân hàng TMCP Đông Nam Á đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 8, tờ bản đồ số 1, tại địa chỉ số 21 dãy A khu TT K94 BTL thông tin, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10119370475, hồ sơ gốc số 8230.2002.QĐUB/369.2003 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 02/12/2002 mang tên ông Nguyễn Đức Bang, bà Đỗ Thị Thơm, đã đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị Kim Hoàn ngày 04/12/2015 theo Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 4183 ngày 01/12/2015. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 3199.2015/HĐTC, quyển: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2015 lập tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tú. Xét thấy Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.

* Xét yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á: Hội đồng xét xử xét thấy: như phân tích ở trên thì các hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm bà Hoàn và Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á đã thỏa thuận được với nhau về phương thức thanh toán khoản nợ trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận sự thỏa thuận của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn. Cụ thể: Xác nhận bà Nguyễn Thị Kim Hoàn còn nợ Ngân hàng TMCP Đông Nam Á tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 2.428.919.163 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.006; Nợ lãi trong hạn: 527.215.430 đồng; Nợ lãi quá hạn: 901.703.727 đồng.

Bà Nguyễn Thị Kim Hoàn có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á số tiền trên theo lộ trình như sau:

  • Ngày 25/11/2023 thanh toán 200.000.000 đồng.
  • Ngày 25/12/2023 thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi còn lại.

Và bà Hoàn phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi, tiền phạt, phí phát sinh theo lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn quy định tại các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp bà Hoàn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo đúng cam kết nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án Dân sự kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số 1, tại địa chỉ số 21, dãy A, khu TT K94 BTL thông tin, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10119370475, hồ sơ gốc số 8230.2002.QĐUB/369.2003 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 02/12/2002 mang tên ông Nguyễn Đức Bang, bà Đỗ Thị Thơm, đã đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị Kim Hoàn ngày 04/12/2015 theo Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 4183 ngày 01/12/2015. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 3199.2015/HĐTC, quyển: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2015 lập tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tú là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

* Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Phương Lan:

+ Đối với yêu cầu đề nghị tuyên bố Hợp đồng ủy quyền công chứng số 1015 ngày 24/5/2016 vô hiệu do giả tạo: Hội đồng xét xử xét thấy, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện do không có khả năng thanh toán trả nợ cho Ngân hàng, nên ngày 24/5/2016, bà Phạm Thị Phương Lan và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn đã ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1015/2016/HĐUQ tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu với nội dung bà Hoàn ủy quyền cho bà Lan thực hiện các công việc sau:

“Liên hệ với ngân hàng TMCP Đông Nam Á- Chi nhánh Láng Hạ để hoàn thành mọi nghĩa vụ tài chính của bên A theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 3199.2015/HĐTC,quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại văn phòng công chứng Nguyễn Tú, thành phố Hà Nội ngày 09/12/2015, và hợp đồng tín dụng cá nhân số 1534300018/HĐTD nêu trên cùng các phụ lục kèm theo (nếu có).

Tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để xóa đăng ký giao dịch bảo đảm trên “giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” số 1011937075 và được nhận bản chính giấy chứng nhận đó tại cơ quan có thẩm quyền (bên A không trực tiếp nhận bản chính giấy chứng nhận nêu trên tại cơ quan có thẩm quyền).

......

Sau khi hoàn tất thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định hiện hành, bên B được toàn quyền cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đối với một phần hoặc toàn bộ nhà đất nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.”

Sau khi ký hợp đồng ủy quyền, ngày 25/5/2016, bà Lan đã cho bà Hoàn vay 1 tỷ đồng thông qua chuyển khoản vào số tài khoản: 1220205153776 tại Ngân hàng Agribank chi nhánh Long Biên của bà Nguyễn Thị Kim Hoàn. Hàng tháng, bà Hoàn đã trả gốc cho bà Lan là 100.000.000 đồng và lãi đối với số tiền vay này, thời hạn vay là 10 tháng. Đến đầu tháng 3 năm 2017, bà Lan tiếp tục cho bà Hoàn vay tiền với thỏa thuận giống như lần trước: khi bà Hoàn trả xong số tiền vay thì hai bên sẽ tiến hành làm thủ tục xóa Hợp đồng ủy quyền trên. Ngày 15/3/2017, bà Lan đã chuyển cho bà Hoàn vay số tiền 800.000.000 đồng qua số tài khoản 1506205097930 tại Ngân hàng Agribank chi nhánh Tây Hồ. Theo thỏa thuận tại Biên bản nhận tiền ngày 15/3/2017, hàng tháng, bà Hoàn trả cho bà Lan số tiền gốc là 100.000.000 đồng và lãi. Nếu bà Hoàn trả hết cả lãi và gốc trong thời hạn 8 tháng kể từ ngày vay tiền thì hai bên sẽ làm thủ tục xóa Hợp đồng ủy quyền trên.

Xét thấy: Hợp đồng ủy quyền được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên việc ký Hợp đồng ủy quyền giữa bà Phạm Thị Phương Lan và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn về bản chất là một hành vi giao dịch đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với giao dịch vay tiền giữa bà Lan và bà Hoàn. Trường hợp bà Hoàn trả xong tiền cho bà Lan thì hai bên sẽ thực hiện thủ tục xóa ủy quyền. Còn trong trường hợp bà Hoàn không trả tiền cho bà Lan thì bà Lan có quyền thực hiện thủ tục xóa thế chấp đối với quyền sử dụng đất tại 21 dãy A khu TTK94 BLT Thông tin xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội và thực hiện quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất nêu trên. Như vậy, giữa bà Lan và bà Hoàn tồn tại hai giao dịch là giao dịch ủy quyền và giao dịch vay tiền. Đối với giao dịch ủy quyền, thực tế các bên đã không thực hiện các công việc theo hợp đồng ủy quyền. Xét về ý chí, các bên không có ý định ủy quyền và ý định thực hiện công việc ủy quyền. Hai bên xác lập hợp đồng ủy quyền chỉ nhằm mục đích đảm bảo cho khoản vay, khi bà Hoàn vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bà Lan được toàn quyền cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng tài sản là nhà đất có địa chỉ tại 21 dãy A khu TT K94 BTL Thông tin, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội. Việc bà Hoàn và bà Lan xác lập hợp đồng ủy quyền là để che đậy cho giao dịch vay mượn tài sản và là biện pháp bảo đảm cho giao dịch vay mượn tài sản. Điều 124 BLDS 2015 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường giao dịch đó cũng vô hiệu”. Căn cứ theo

quy định trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định hợp đồng ủy quyền số công chứng số 1015/2016/HĐUQ ngày 24/5/2016 giữa bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và bà Phạm Thị Phương Lan vô hiệu do giả tạo và xác nhận Giao dịch vay tiền giữa bà Hoàn và bà Lan vẫn có hiệu lực là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với yêu cầu buộc bà Hoàn phải trả lại số tiền nợ gốc 800.000.000 đồng và nợ lãi: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi ký Hợp đồng ủy quyền và giấy vay tiền ngày 15/3/2017, bà Lan đã thực hiện chuyển khoản số tiền 800.000.000 đồng vào tài khoản của bà Hoàn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam theo Giấy nộp tiền ngày 15/3/2017. Cùng ngày, bà Hoàn đã viết Biên bản nhận tiền với nội dung xác nhận đã nhận số tiền 800.000.000 đồng. Cũng trong biên bản này, bà Hoàn cam kết sẽ trả tiền trong thời hạn 08 tháng, mỗi tháng trả gốc 100.000.000 đồng và lãi cho bà Lan vào ngày 25 hàng tháng kể từ ngày 25/4/2017. Tuy nhiên, từ thời điểm vay cho đến nay, bà Hoàn vẫn chưa trả tiền cho bà Lan. Trong các bản ý kiến của bà Hoàn, bà Hoàn có trình bày đã trả toàn bộ số tiền trên cho bà Lan nhưng không đưa ra được các chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ xem xét. Do đây là yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu này. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của bà Lan buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoàn phải trả cho bà Phạm Thị Phương Lan số tiền nợ gốc 800.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về yêu cầu trả tiền lãi: Hội đồng xét xử xét thấy, tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch vay tài sản đã hết, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tính lãi của bà Lan. Sau khi xét xử sơ thẩm bà Lan không kháng cáo về vấn đề này nên hội đồng xét xử không xem xét.

+ Xét yêu cầu của bà Lan đề nghị tuyên bố Văn bản cam kết số công chứng 357/VBCK được ký kết vào ngày 24/02/2017 giữa ông Nguyễn Hải Đăng và bà Nguyễn Thị Kim Hoàn tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hương là vô hiệu. Hội đồng xét xử xét thấy, như phân tích ở trên thì do Hợp đồng ủy quyền giữa bà Hoàn và bà Lan vô hiệu nên giao dịch theo văn bản cam kết số công chứng 357/VBCK được ký kết vào ngày 24/02/2017 giữa Nguyễn Hải Đăng và Nguyễn Thị Kim Hoàn không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị Phương Lan. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của bà Lan là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

* Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hải Đăng:

+ Đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoàn trả cho ông Đăng số tiền 1.400.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/02/2017 cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 24/02/2017, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn và ông Nguyễn Hải Đăng đã ký Văn bản cam kết chuyển nhượng

quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 357/VBCK, Quyển số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/02/2017 lập tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hương. Thực hiện các thỏa thuận trong Văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 357/VBCK, quyển số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/02/2017, ông Nguyễn Hải Đăng đã chuyển cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàn tổng số tiền 1.400.000.000 đồng, trong đó bà Hoàn nhận trực tiếp 150.000.000 đồng tiền mặt, số tiền còn lại là 1.250.000.000 ông Đăng đã chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của bà Hoàn theo Giấy nộp tiền/chuyển tiền ngày 24/02/2017 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong.

Theo văn bản cam kết nêu trên, các bên thỏa thuận:

“...Trong vòng 03 (ba) tháng kể từ ngày ký văn bản cam kết này. Bên A có nghĩa vụ thực hiện việc giải tỏa tài sản nêu trên tại các cơ quan có thẩm quyền và hai bên tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng bất động sản nêu trên tại văn phòng công chứng Nguyễn Hương. Khi đó bên B sẽ thanh toán nốt cho bên A số tiền còn lại.

......

- Nếu hết thời hạn thỏa thuận nêu trên mà Bên A không thực hiện việc chuyển nhượng bất động sản nêu trên cho Bên B thì Bên A phải trả lại cho Bên B số tiền 1.400.000.000 đồng”.

Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm bà Hoang cho rằng số tiền 1.400.000.000 đồng bà đã nhận của ông Đăng không liên quan đến văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 357/VBCK ngày 24/02/2017. Đối với thỏa thuận liên quan đến văn bản cam kết này, bà chỉ nhận của ông Đăng 400.000.000 đồng nhưng đã chuyển trả ông Đăng toàn bộ số tiền 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà Hoàn không có tài liệu chứng cứ chứng minh, nên không có cơ sở để xem xét yêu cầu này của bà Hoàn.

Xét thấy, đến thời điểm hiện tại, bên A (bà Nguyễn Thị Kim Hoàn) vẫn chưa thực hiện thủ tục giải tỏa tài sản thế chấp tại Ngân hàng, nên đối tượng thỏa thuận của văn bản cam kết này vẫn đang là tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của bà Hoàn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á. Căn cứ khoản 5 Điều 422 BLDS 2015, văn bản cam kết này chấm dứt. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Hoàn phải hoàn trả lại cho ông Đăng số tiền 1.400.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với khoản lãi suất: Hội đồng xét xử xét thấy, do trong văn bản cam kết, các bên không thỏa thuận về việc phạt vi phạm nên không chấp nhận yêu cầu tính lãi của ông Đăng.

+ Đối với yêu cầu về việc buộc Văn phòng công chứng Nguyễn Hương phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Đăng số tiền nêu trên và số tiền lãi phát sinh trong trường hợp bà Hoàn không thực hiện việc trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, Văn phòng công chứng Nguyễn Hương công chứng văn bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản ngày 24/2/2017 giữa bà Hoàn và ông Đăng trên cơ sở cung cấp thông tin của bà Hoàn và ông Đăng. Việc đưa thông tin ủy quyền tài sản của bà Hoàn cho bà Lan thuộc trách nhiệm của Văn phòng công chứng Hoàng Cầu. Theo bản ý kiến của Văn phòng công chứng Nguyễn Hương, Văn phòng công chứng Nguyễn Hương đã thực hiện việc kiểm tra thông tin đối với nhà đất số 21 dãy A khu TT K94 BTL thông tin xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), Thành phố Hà Nội trên hệ thống Uchi và thấy nội dung của Hợp đồng ủy quyền giữa bà Lan và bà Hoàn chỉ là: “Tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để xóa đăng ký giao dịch bảo đảm trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” số 10119370475 và được nhận bản chính của Giấy chứng nhận đó tại cơ quan có thẩm quyền.” Như vậy, Văn phòng Công chứng Hoàng Cầu đưa thông tin lên Hệ thống Uchi không đầy đủ, thiếu thông tin đã dẫn đến việc Công chứng viên của Văn phòng công chứng Nguyễn Hương đồng ý công chứng Văn bản cam kết giữa ông Đăng và bà Hoàn. Hơn nữa khi ông Đăng xác lập giao dịch với bà Hoàn, ông Đăng đã biết nhà đất số 21 dãy A khu TT K94 BTL thông tin xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội) đang là tài sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á nhưng vẫn tiến hành giao dịch, thực hiện trả tiền đặt cọc cho bà Hoàn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Do đó, Văn phòng công chứng Nguyễn Hương không có lỗi trong việc làm cho giao dịch giữa ông Đăng và bà Hoàn không thực hiện được. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Đăng buộc Văn phòng công chứng Nguyễn Hương phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đăng toàn bộ số tiền mà bà Hoàn nợ ông trong trường hợp bà Hoàn không trả được là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với yêu cầu về việc buộc bà Hoàn phải trả cho ông Đăng các khoản phí phát sinh trong quá trình tố tụng của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với yêu cầu này, ông Đăng không đưa ra được yêu cầu cụ thể cũng như chứng cứ chứng minh cho yêu cầu này, nên không có căn cứ để xem xét. Tòa án cấp sơ thẩm không được chấp nhận yêu cầu này của ông Đăng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hải Đăng.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về nội dung vụ án phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận; Đối với quan điểm đề nghị sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên và án phí. Hội đồng xét xử xét thấy qua kiểm trả thấy cách tuyên và việc tính án phí của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy không chấp nhận đề nghị này của Viện kiểm sát.

* Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hải Đăng không được chấp nhận, nên ông Đăng phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 121, 122, 123, 124, Điều 388, 402, 471 Bộ luật Dân sự 2005
  • Áp dụng Điều 116, 117, 118, 119, 124, 149, 280, 281, 357, 418, 429, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  • Áp dụng Điều 12, Điều 50, Điều 56, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 223/2023/DS-ST ngày 06/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.
  2. Về án phí phúc thẩm: ông Nguyễn Hải Đăng phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019125 ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ, thành phố Hà Nội.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Đ;
  • - Chi cục THADS quận Đ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 602/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dân sự

  • Số bản án: 602/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự giữa nguyên đơn Phạm Thị Phương L và bị đơn Nguyễn Thị Kim H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger