Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 601/2023/HS-ST

Ngày 21-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Lâm Danh
  2. Ông Nguyễn Ngọc Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 923/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5592/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Hải T; Giới tính: Nam; Sinh ngày19/5/1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 175/43A, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa (Hán); Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Huỳnh Quang Đ (chết) và bà Dương Mười T'; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu V và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền sự: Không;Tiền án: Ngày 29/9/2020 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 435/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2021; bị bắt, tạm giam từ ngày 17/6/2023 (có mặt).

Bị hại: Bà Joylyn R, Sinh năm 1994, quốc tịch: Philippines; Hộ chiếu số P8314310B;

Nơi ở tại Việt Nam: Phòng 406, 9 H, số 09 B, phường T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, Huỳnh Hải T điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen, biển số 59T2 - 602.45 đi từ hướng quận BìnhThạnh về Quận 1, khi đến trước số nhà 108 Nguyễn Du, phường Bến Thành, Quận 1 thì thấy bà Joylyn R (Quốc tịch Philippines) đang đi bộ trên vỉa hè, trong túi quần phía trước bên phải có để 01 (một) điện thoại di động. T nảy sinh ý định cướp giật để bán lấy tiền tiêu xài. T vòng xe quay lại, chạy trên lề đường, áp sát từ phía sau bên phải và dùng tay trái giật điện thoại của bà Joylyn R rồi tăng ga tẩu thoát về hướng đường Nguyễn Trung Trực. Sau khi bị cướp giật điện thoại, bà Joylyn R đến Công an phường Bến Thành, Quận 1, trình báo sự việc..

Qua truy xét, khoảng 00 giờ 00 phút ngày 15/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra về trật tự xã hội Công an Quận 1 phát hiện Huỳnh Hải T đang điều khiển xe mô tô biển số 59T2-602.45 lưu thông trên đường Phạm Viết Chánh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 nên đưa về trụ sở Công an phường Bến Thành, Quận 1để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Hải T khai nhận hành vi như nội dung như đã nêu trên. T khai, sau khi thực hiện hành vi cướp giật được điện thoại, T gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Đặng Thanh Toàn nói mới nhặt được 01 (một) điện thoại di động nhưng do điện thoại bị khóa mật khẩu nên nhờ Toàn bán, Toàn bán cho cửa hàng Thanh Khang Mobile, địa chỉ; 507 đường tỉnh 826C, xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (do anh Trần Lê Thanh Khang làm chủ) với giá 4.000.000 đồng và đưa tiền toàn bộ số tiền bán được cho T, T đã tiêu xài hết số tiền trên.

Anh Nguyễn Đặng Thành Toàn khai nhận nội dung như bị cáo khai nhận.

Chủ cửa hàng “Thanh Khang Mobile” là anh Trần Lê Thanh Khang trình bày phù hợp với nội dung như đã nêu trên, khi biết điện thoại trên là tài sản do cướp giật mà có anh Khang đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Ngày 17/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Huỳnh Hải T sau đó chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản số 160/KL-HĐĐGTS ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, số Imei 357095185456067, trị giá 12.365.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, số Imei 357095185456067, trị giá 12.365.000 đồng đã được thu hồi trả cho bị hại là bà Joylyn R.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh; biển số 59T2 - 602.45 do Huỳnh Hải T đứng tên chủ quyền, là phương tiện gây án; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu xanh nhạt, 01 (một) quần đùi kaki màu xanh đậm, 01 (một) nón bảo hiểm màu bạc, 01 (một) đôi dép quai ngang màu nâu là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật;
  • - 01 (Một) ĐTDĐ loại Samsung Galaxy Note 9 là tài sản riêng của Huỳnh Hải T.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 03/10/2023, bị hại là bà Joylyn R đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại Cáo trạng số 571/CT-VKS-P2 ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Huỳnh Hải T về tội “Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171 ; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Hải T từ 04 đến 05 năm tù Về tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách niệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản và không yếu cầu bồi thường dân sự nên không phải giải quyết.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định của họ. Do vây, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nêu trên là hợp pháp.

[2] Đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi của bị cáo và định tội: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản hỏi cung bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại lài bà Joylyn R, phù hợp với lời khai của anh Trần Lê Thanh Khang và anh Nguyễn Thanh Toàn, ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong vụ án như: Biên bản làm việc về việc kiểm tra Camera, Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, Sơ đồ hiện trường...Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo Huỳnh Hải T sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen, Biển số 59T2-602.45 di chuyển đến trước số nhà 108 Nguyễn Du, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh để giật 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 12 Promax trị giá 12.365.000 đồng của bà Joylyn R rồi nhanh chóng tẩu thoát mang đi tiêu thụ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi là Bộ luật hình sự). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây mất niềm tin về sự an toàn cho du khách khi đến Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo sử dụng xe mô tô áp sát người bị hại giật điện thoại coi là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; bị cáo đã bị kết án về tội Cướp giật tài sản là tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi Cướp giật tài sản nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

[ 3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tài sản bị cáo chiếm đoạt cũng được thu hồi trả cho người bị hại cho nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Hội đồng xét xử xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt hình phạt tù với thời hạn nhất định nhằm cải tạo giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, giáo dục người khác trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Joylyn R đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Anh Trần Lê Thanh Khang không yêu cầu bị cáo trả số tiền 4.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh; biển số 59T2 - 602.45 do Huỳnh Hải T đứng tên chủ quyền, là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu xanh nhạt, 01 (một) quần đùi kaki màu xanh đậm, 01 (một) nón bảo hiểm màu bạc, 01 (một) đôi dép quai ngang màu nâu là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. 01 (Một) ĐTDĐ loại Samsung Galaxy Note 9 là tài sản riêng của Huỳnh Hải T, tại phiên tòa bị cáo xác nhận điện thoại đã hỏng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Biện pháp tư pháp: Số tiền 4.000.000đồng bị cáo bán điện thoại cướp giật được, đây số tiền là do phạm tội mà có nên buộc Huỳnh Hải T phải nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có Nguyễn Đặng Thanh Toàn là người giúp bị cáo bán chiếc điện thoại cướp giật của bà Joylyn R và anh Trần Lê Thanh Khang là người mua; hai người này không biết điện thoại mua bán là điện thoại do Huỳnh Hải T cướp giật được nên không xử lý đối với những người trên là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Hải T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2023.

  1. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, dung tích xi lanh: 109,1, biển số 59T2 - 602.45, SK: RLHJA3921NY465838, SM: JA39E2899480 (không gương, dàn nhựa bể vỡ, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu xanh nhạt, 01 (một) quần đùi kaki màu xanh đậm, 01 (một) nón bảo hiểm màu bạc, 01 (một) đôi dép quai ngang màu nâu; 01 (một) điện thoại di động loại Samsung Galaxy Note 9 (bể màn hình và lưng, pin phù, thực nhận 01 điện thoại Samsung, lưng-Imei:...938/2, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK20224/056 ngày 20/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  1. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Huỳnh Hải T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (2)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 601/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 601/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Huỳnh Hải T 04 (bốn) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger