trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 601/2024/DS-PT

Ngày: 28/6/2024

V/v Tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Bà Nguyễn Thị Lan Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 316/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2304/2024/QĐ-PT ngày 04/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 7474/2024/QĐ-PT ngày 30/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    1.1. Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1964;

    Địa chỉ: Số A tổ A ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền cho ông M: Bà Huỳnh Thị Kim T; Địa chỉ: A Đường R, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

    1.2. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1965;

    Địa chỉ: Số H tổ D, ấp B, xã B, huyện C, T2 phị Hồ Chí M1.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông T1: Bà Huỳnh Thị Kim T; Địa chỉ: A Đường R, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin xét xử vắng mặt); ông Trần Văn Đ; Địa chỉ: N, T, Hà Tĩnh. (Có mặt)

  1. Bị đơn: Ông Hoàng H, sinh năm 1980;

    Địa chỉ: 5 C, phường P, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của ông H:

    • - Ông Võ Quốc H1, sinh năm 1994;
    • Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
    • - Bà Hồ Thị Phước T3, sinh năm: 1977;
    • Địa chỉ: 5 đường C, P. P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
    • - Ông Hoàng Long G, sinh năm: 1985;
    • Địa chỉ thường trú: C, khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    3.1. Bà Lê Thị M2, sinh năm: 1969;

    Địa chỉ: 850, tổ D, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền cho bà M2: Ông Trần Văn Đ; Địa chỉ: N, Thạch hà, Hà Tĩnh. (Có mặt)

    3.2. Bà Nguyễn Thị Thanh Q, sinh năm: 1973;

    Địa chỉ: A, tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

    3.3. Bà Trần Ngọc L, sinh năm: 1967;

    Địa chỉ: F ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện ủy quyền của bà L: Bà Trần Thị Quỳnh M3, sinh năm 1989;

    Địa chỉ: 5 Lô C, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

  3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Hoàng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:

Tại các buổi làm việc, buổi hòa giải và phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Đức M và Nguyễn Thanh T1 có người đại diện là bà Huỳnh Thị Kim T trình bày:

Năm 2018, ông M và ông T1 có nhận chuyển nhượng thửa đất số: 534; tờ bản đồ số: 19; diện tích: 500 m², tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh từ bà Hoàng Thị T4 (Viết tắt là “thửa đất số 534”). Sau khi nhận chuyển nhượng, ngày 28/12/2018, ông M, ông T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CM 532927 và số CM 532928 đối với thửa đất nêu trên.

Đến cuối năm 2019, ông M, ông T1 phát hiện ông Hoàng H (người có đất liền kề) lấn chiếm, sử dụng phần diện tích đất của hai ông với diện tích đất 16,9 m². Diện tích đất bị lấn chiếm đã được ông H kéo lưới B40 và xây bờ gạch bao lại.

Ông M, ông T1 có phản ánh, nhưng ông H không thừa nhận việc lấn chiếm. Vụ việc được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C hòa giải không thành. Do đó, ông T1 và ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H trả lại diện tích 16,9 m² lấn chiếm. Sau khi có kết quả đo vẽ hiện trạng vị trí áp ranh, nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án buộc ông H tháo dỡ tường xây có chiều dài 23,5m (cùng vật dụng) trên đất để trả lại diện tích 19,8 m² đất mà ông H đã lấn chiếm; đồng thời buộc ông H phải hoàn trả chi phí đo vẽ mà nguyên đơn đã tạm ứng là 16.907.440 đồng theo Hợp đồng số: 130439/TTĐBĐ-VPTT ngày 14/01/2022.

Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa xét xử sơ thẩm, bị đơn, người đại diện của bị đơn trình bày:

Năm 2010, ông H nhận chuyển nhượng diện tích đất từ bà Thủy T5 và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 704001, số vào sổ cấp GCN: CH00548, thửa đất số: 536; tờ bản đồ số: 19 (Viết tắt là “thửa đất số 536”); diện tích: 500 m².

Năm 2011, ông H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy phép xây dựng căn nhà trên đất. Trước thời điểm xây nhà và xây hàng rào xung quanh khuôn viên khu đất thì ông H đã được chủ đất, cán bộ địa chính xã B bàn giao theo thực địa. Chủ đất cũ đã xây dựng một bờ gạch nhỏ để chia ranh giới của khu đất, ông H đã sử dụng đúng ranh đất không lấn chiếm đất của ai nên không đồng ý trả lại đất.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H cho rằng Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất sai vị trí so với thực địa hoặc có thể kết quả đo vẽ không chính xác; ông H không đồng ý trả lại đất mà có ý kiến đề nghị điều chỉnh lại giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với hiện trạng các bên sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • + Bà Lê Thị M2 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Thanh T1, bà đồng ý với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông T1.
  • + Bà Nguyễn Thị Thanh Q trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Đức M, bà đồng ý với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông M.
  • + Bà Trần Ngọc L trình bày: Bà L là người đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 534 do ông T1 và ông M đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng ngày 11/6/2021; bà L cũng đã thanh toán hết toàn bộ số tiền chuyển nhượng. Hiện tại bà đang nộp hồ sơ để cập nhật biến động sang tên tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất – Chi nhánh huyện C. Tuy nhiên, do đang giải quyết tranh chấp nên hồ sơ chưa thực hiện xong. Bà L đề nghị Tòa án sớm giải quyết tranh chấp để bà hoàn thành thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Đức M và ông Nguyễn Thanh T1 có bà Nguyễn Thị T6 làm đại diện theo ủy quyền đối với bị đơn – ông Hoàng H về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”:

    Buộc ông Hoàng H phải có trách nhiệm tháo dỡ tường xây có chiều dài 23,5m (cùng vật dụng) trên đất của ông Nguyễn Đức M và ông Nguyễn Thanh T1 để trả lại diện tích 19,8 m² đất thuộc thửa đất số 534 được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CM 532927; số vào sổ cấp GCN: CS01830 và số CM 532928; số vào sổ cấp GCN: CS01830 cho ông Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Đức M (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 30/3/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hoàng H phải hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng cho ông Nguyễn Đức M với số tiền là 16.907.440 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chưa thi hành xong cho người được thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 25/12/2023, bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Hoàng H vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Quốc H1 trình bày: Sau khi ông H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ chủ đất cũ, ông H đã sử dụng đất theo đúng ranh do chủ đất cũ và cán bộ địa chính xã xác định, hoàn toàn không có việc lấn chiếm đất của nguyên đơn. Năm 2011, ông H xây nhà trên đất được cấp giấy phép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nay bị đập thì ông H là người bị thiệt hại. Người đại diện của ông H cho rằng, trong trường hợp này có thể đã có sự sai sót trong khâu cấp giấy. Bị đơn đề nghị sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 có người đại diện là ông Trần Văn Đ trình bày: Sau khi áp ranh trên thực địa trên cơ sở giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền cấp cho nguyên đơn và cấp cho bị đơn đã xác định được bị đơn đang sử dụng đất lấn qua diện tích mà nguyên đơn được cấp. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc L có người đại diện là bà M3 trình bày: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
  • Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thửa đất số 534 được cấp giấy chứng nhận cho nguyên đơn và thửa đất số 536 được cấp giấy chứng nhận cho bị đơn có vị trí liền kề nhau.

Căn cứ theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số hợp đồng 130439/TTĐĐBĐ-VPTT ngày 30/3/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H được thực hiện theo sự hướng dẫn của ông M và ông H thể hiện: Diện tích đất tranh chấp là 19,8 m2 (vị trí số 3), diện tích đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1, ông M nhưng đang do ông H sử dụng.

Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng khu đất tranh chấp không có người sinh sống; trên đất có phần nền bê tông; có 05 trụ bê tông đã gãy; có móng tường dài khoảng 23,5 m; một đoạn tường đã đổ sập dài 4,4 m.

Người đại diện cho ông H trình bày, năm 2010 ông H nhận chuyển nhượng thửa đất số 536 có diện tích 500 m² và được Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 704001, số vào sổ cấp GCN: CH00548 ngày 18/5/2010. Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông H sử dụng đất căn cứ theo ranh đất do chủ đất cũ hướng dẫn và cán bộ địa chính xã B bàn giao trên thực địa. Ông H không lấn chiếm đất của nguyên đơn. Bị đơn cho rằng hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn sai so với ranh thực tế sử dụng của hai bên hoặc kết quả đo vẽ không chính xác. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn không có đơn yêu cầu phản tố, không cung cấp bản vẽ khác có giá trị pháp lý hoặc yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục để đo vẽ đất để bảo vệ cho lập luận của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, phía bị đơn cũng không cung cấp được thêm bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, ngày 9/9/2011 ông H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy phép xây dựng số 299/GPXD và đã tiến hành xây dựng nhà ở có diện tích 75 m² trên thửa đất 536. Công trình xây dựng này hoàn toàn nằm trên thửa đất số 536 theo bản vẽ hiện trạng vị trí – áp ranh số hợp đồng 130439/TTĐĐBĐ-VPTT ngày 30/3/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Tại vị trí tranh chấp hiện chỉ có một số vật dụng và bức tường xây dài khoảng 23,5 m do ông H xây dựng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tuyên xử buộc ông H tháo dỡ bức tường xây trên đất để trả lại diện tích 19,8 m² cho ông M và ông T1 là có cơ sở và không làm ảnh hưởng đến kết cấu xây dựng của căn nhà, không gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng H; Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng H.

Tuyên xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Đức M và ông Nguyễn Thanh T1 đối với bị đơn - ông Hoàng H về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”:

    Buộc ông Hoàng H phải tháo dỡ tường xây có chiều dài 23,5m (cùng vật dụng) trên đất của ông Nguyễn Đức M và ông Nguyễn Thanh T1 để trả lại diện tích 19,8 m² đất thuộc thửa đất số: 534; tờ bản đồ số: 19, tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CM 532927; số vào sổ cấp GCN: CS01830 và số CM 532928; số vào sổ cấp GCN: CS01830 cho ông Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Đức M (Tại vị trí số 3 của Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 30/3/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hoàng H phải hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng cho ông Nguyễn Đức M với số tiền là 16.907.440 (Mười sáu triệu chín trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm bốn mươi) đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chưa thi hành xong cho người được thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

    Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Đức M và ông Nguyễn Thanh T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AG/2011/07413 ngày 12/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hoàng H phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0046620 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - TAND huyện Cần Giờ;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Cần Giờ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 601/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 601/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger