TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 601/2024/DS-PT
Ngày: 08-8-2024
V/v: “Tranh chấp yêu cầu chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên.
Ông Mai Xuân Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/TLPT-DS ngày 03/4/2024 về việc: “Tranh chấp yêu cầu chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2160/2024/QĐ-PT ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Phùng X, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hàm Z, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: H, P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Theo Văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024).
Bị đơn:
- Bà Ngô Thị Kim B, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Ông Võ Phước D, sinh năm 1976 (vắng mặt).
- Bà Võ Ngọc D1, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S. tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Võ Ngọc U, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số I, đường H, Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Võ Phước H, sinh năm 1956 (đã chết vào ngày 07/9/2018).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:
- Bà Ngô Thị Kim B, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Ông Võ Phước D, sinh năm 1976 (vắng mặt).
- Bà Võ Ngọc D1, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Võ Ngọc U, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số I đường H, Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị Kim B, ông Võ Phước D và bà Võ Ngọc U: Bà Mai Hồng L, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: LK B. 01. 03, đường C, Khu dân cư M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Theo Văn bản ủy quyền ngày 18/4/2023).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị C, sinh năm 1923 (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Kim H1, sinh năm 1953 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1970 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số B đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị C và bà Huỳnh Thị Kim H1: Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Số B, đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Theo Văn bản ủy quyền ngày 24/11/2015 và ngày 06/9/2016).
- Bà Phan Thị Thu T1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Ông Trịnh Thanh B1, sinh năm 1978 (vắng mặt).
- Bà Võ Phan Ngọc T2, sinh năm 1999 (vắng mặt).
- Ông Võ Phan Phước K, sinh năm 2001 (vắng mặt).
- Bà Trịnh Băng B2, sinh năm 2002 (vắng mặt).
Bà T1, ông B1, bà T2, ông K, bà B2 cùng địa chỉ: Số A đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của Bà T1, ông B1, bà T2, ông K: Bà Mai Hồng L, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: LK B. 01. 03, đường C, Khu dân cư M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Theo Văn bản ủy quyền ngày 18/4/2023).
- Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố S.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần văn T3; chức vụ: Chủ tịch.
Địa chỉ: Số I, đường P, Khóm C, Phường B, thành phố S. tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của UBND thành phố S: Ông Đỗ Xuân N, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố S (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1 đường P, Khóm C, Phường B, thành phố S. tỉnh Sóc Trăng (Theo Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2022).
Người kháng cáo: Nguyên đơn, bà Võ Thị Phùng X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Phùng X và người đại diện hợp pháp trình bày:
Cha mẹ của bà Võ Thị Phùng X là ông Võ Văn M (chết ngày 28/12/2006) và bà Dương Thị B3 (chết ngày 06/8/1998) có hai người con nuôi là bà Võ Thị Phùng X và ông Võ Phước H, ngoài ra không có con chung, con riêng và trước khi chết cha mẹ bà không để lại di chúc.
Khi còn sống, ông M, bà B3 có tạo lập được khối tài sản chung gồm: 01 căn nhà quán, diện tích 26,8m², loại đất ODT, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại số B N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; 01 căn nhà đất diện tích 52,2m², loại đất ODT, thửa đất số 37, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại số A đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; 01 căn nhà đất diện tích 626,6m², loại đất ODT + LNK, thửa đất số 131, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại số E đường K, Khóm E, Phường H, thành S, tỉnh Sóc Trăng; Diện tích 1.980,2m², loại đất LUC, thửa đất số 93, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Diện tích 4.164,5m², loại đất LUC, thửa đất số 32, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Trong yêu cầu trước đây, do không am hiểu nhiều về pháp luật, bà X chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản thừa kế đối với 02 tài sản, gồm: Căn nhà quán, diện tích 26,8m², tọa lạc tại số B đường N và căn nhà đất diện tích 52,2m² tọa lạc tại số A, đường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nay đã hiểu rõ quyền và lợi ích hợp pháp đối với các di sản thừa kế của cha mẹ để lại theo quy định của pháp luật, nên bà X yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
Buộc bà Ngô Thị Kim B, ông Võ Phước D, bà Võ Ngọc D1, bà Võ Ngọc U là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H, phải phân chia tiếp phần 03 khối tài sản thừa kế của ông M và bà B3 đúng theo quy định của pháp luật là các tài sản sau:
Căn nhà đất diện tích 600,9m², loại đất ODT + CLN, thửa đất số 131 tọa lạc tại số E đường K, Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, do cha mẹ bà chuyển nhượng của ông Trần T4 năm 1978, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số H 2570, do UBND thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 31/8/2007, cấp cho ông H và bà B;
Diện tích 1.980,2m², thửa đất số 93, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, do cha mẹ bà chuyển nhượng của ông Lưu Văn n 1991, đã được cấp giấy CNQSDĐ số H 2908, do UBND thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 06/8/2009, cấp cho ông H và bà B;
Diện tích 4.164,5m², đất LUC thửa đất số 32, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, do cha mẹ bà được Nhà nước cấp năm 1991, đã được cấp giấy CNQSDĐ số H 2518, do UBND thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 03/4/2007, cấp cho ông H và bà B.
Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 205, do UBND thành phố S cấp ngày 08/5/2009 cho ông H đứng tên đối với đất và nhà tại số A, đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Bị đơn, các ông (bà): Võ Phước H, Ngô Thị Kim B và người đại diện hợp pháp của các bị đơn, của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông H trình bày:
Do có mâu thuẫn nên cha bà X đã bỏ nhà đi, đến năm 1954 thì bà Đ (mẹ ruột bà X) nhờ ông M làm cho bà X giấy khai sinh để được nhận trợ cấp trong lúc cha bà X bỏ đi để cho bà X có tiền sinh sống và đi học, vì ông M đi lính chế độ cũ. Trước đây, bà X cho rằng, bà là con ruột của ông M và bà B3, nhưng sau khi ra hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường C2 thì biết không thể tiếp tục nói là con ruột nên mới đổi sang nói là con nuôi. Nếu bà X cho rằng bà X là con nuôi của ông M và bà B3 thì yêu cầu phía nguyên đơn cung cấp toàn bộ những giấy tờ, khế ước nuôi con nuôi để chứng minh, vì ông M và bà B3 không có con riêng, cũng không có con nuôi, nên việc lập thủ tục sang tên cho ông H và bà B thời điểm nào cũng có giá trị.
Đối với thiệp đám cưới, vì muốn cho cháu được hạnh phúc một vợ, một chồng ông M và bà B3 mới đứng tên tổ chức và trong ngày cưới thì bà X và chồng bà X kêu ông M, bà B3 bằng Cũ Sáu và Kiểm S. Sau khi bà X và chồng quay về Sóc Trăng sinh sống có ở nhờ trên đất của ông M cũng có làm giấy cam kết khi ra đi không có quyền đòi hỏi bất cứ điều gì.
Như vậy, đã chứng minh bà X không phải là con ruột, cũng không phải là con nuôi của ông M và bà B3, nếu xin con nuôi thì phải nuôi, nhưng ông M và bà B3 không nuôi bà X ngày nào. Trước khi chết thì ông M đã cùng hai người làm chứng đến Văn phòng C3 và xác nhận trong thời kỳ hôn nhân ông M và bà B3 chỉ có một người con duy nhất là ông H, không có con riêng, con nuôi hay con ngoài giá thú.
Căn nhà quán số B, đường N được ông M quản lý từ trước năm 1975, đến năm 1991 cho lại ông H. Năm 1992, ủy quyền lại cho dâu là bà B mua bán để nuôi cháu ăn học. Căn nhà số A (số cũ là 79) do ông H quản lý, có nguồn gốc do bà Vương Thị B4 nhận chuyển nhượng của ông Trần Xuân H2 và bà Đặng Thị Sinh t năm 1973, đến năm 2003 mới được cấp giấy CNQSDĐ cho ông M, lúc này căn nhà một trệt một lầu, đến ngày 28/5/2009 chuyển tên sang cho ông H, hiện trạng căn nhà không thay đổi.
Việc Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng chấp nhận tất cả các đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và diễn ra sau khi Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và mục 7, phần IV của Công văn số 01, ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao. Theo Đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn về việc chia thừa kế thêm 03 thửa đất: Thửa đất số 131, 32 và 93 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Theo hồ sơ địa chính thể hiện rõ các thửa đất này là của ông H và bà B tạo lập, không liên quan gì đến ông M và bà B4, nên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng chấp nhận Đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn là hoàn toàn không có căn cứ và không đúng quy định.
Nay, bà X yêu cầu chia di sản thừa kế của ông M và bà B4 thì các ông (bà) không đồng ý, vì tất cả tài sản trên không phải là di sản thừa kế của ông M và bà B4 chết để lại và bà X không phải con ruột, cũng không phải con nuôi của ông M và bà B4.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Ngô Kim B, ông Võ Phước D, bà Võ Ngọc U trình bày: Thống nhất nội dung trình bày của bị đơn.
Người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị C, bà Huỳnh Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị Bạch T trình bày:
Bà C là bà nội, bà H1 là mẹ ruột của bà T. Về căn nhà số A, đường C, bà X yêu cầu chia thừa kế thì các bà không có ý kiến.
Đối với căn nhà quán số B, đường N như sau: Nguồn gốc căn nhà số B là của bà C, do ông M đi lính về không có việc làm nên bà C mới cho ông M vào ở trong một phần của căn nhà này (một bên giáp căn nhà 260 của bà C, một bên là đất trống - hiện trạng bây giờ là bến xe, ngang trước giáp lộ, ngang sau giáp đường sông Cầu Bong), diện tích 26,8m², nhưng bà C chỉ cho ông M một phần diện tích đất phía trước để sử dụng tạm là hơn 10m² để gia đình ông M mua bán; còn phần đất phía sau diện tích khoảng 13m² là của bà C được ngăn bằng cái tủ, chứ gia đình ông M không được quyền xây vách tường hay sử dụng toàn bộ diện tích 26,8m². Năm 1993, ông M xin bà C sửa lại căn nhà quán để thuận tiện cho việc mua bán và bà C đồng ý cho sửa diện tích hơn 10m², việc sửa chữa còn nguyên hiện trạng như lúc Tòa án xuống xem xét, thẩm định tại chỗ. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X là chia đều tài sản của ông M và bà B4 cho bà X và ông H thì bà đồng ý cho chia luôn diện tích đất khoảng 13m² đất phía sau, nếu không thì bà đề nghị công nhận diện tích khoảng 13m² đất phía sau cho bà C, bên cạnh đó đề nghị Tòa án công nhận quyền được hưởng tái định cư của diện tích đất khoảng 13m². Tuy nhiên, bà C, bà H1 và bà T không có nộp đơn yêu cầu độc lập.
Ủy ban nhân dân thành phố S trình bày:
Qua rà soát, kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, thể hiện: Việc UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 205, ký ngày 08/5/2009 đối với thửa đất số 37,
tờ bản đồ số 02 nêu trên là đúng với trình tự, thủ tục đối với các trường hợp chuyển nhượng nhà ở đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Điều 48 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Đối với việc nguyên đơn bà X yêu cầu thu hồi (hủy) giấy CNQSDĐ phải bảo đảm theo quy định tại điểm d khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013.
Đối với hồ sơ liên quan đến phương án bồi thường hỗ trợ khu Cao ốc trước đây (nay là dự án sắp xếp 12 lô đất đường N, đường C), đã được Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố S có văn bản số 59/CV-TTPTQĐ ngày 23/7/2019 trả lời, nay cung cấp công văn này và hồ sơ kèm theo.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2012/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2012 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, quyết định:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Phùng X về việc yêu cầu chia thừa kế đối với: Phần đất có diện tích 26,8m² đất ODT, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại số B, đường N, khóm F, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Một căn nhà, đất diện tích 52,2m² đất ODT, thửa đất số 37, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại số A, đường C, khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Phùng X về việc yêu cầu chia thừa kế đối với: Một căn nhà, đất diện tích 626,6m² đất ODT+LNK, thửa đất số 46, tờ bản đồ số 131, tọa lạc tại số E, đường K, khóm E, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Một phần đất diện tích 1980,2m² đất LUC, thửa đất số 93, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại khóm E, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Một phần đất diện tích 4164,6m² đất LUC, thửa đất số 32, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại khóm E, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 181/2012/DS-PT ngày 24 tháng 9 năm 2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, quyết định:
Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Phùng X, yêu cầu hưởng di sản thừa kế của ông Võ Văn M và bà Dương Thị B3.
Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 20/2012/DS-ST ngày 23/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, đã xét xử vụ án “Tranh chấp thừa kế”, giữa nguyên đơn Võ Thị Phùng X, bị đơn Võ Phước H và một số người liên quan khác.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 147/2015/DS-GĐT ngày 27/4/2015 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao, quyết định: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2012/DS-ST ngày 23/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng và Bản án dân sự phúc thẩm số 181/2012/DS-PT ngày 24/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Sau khi thụ lý lại, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng đã chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, quyết định:
Căn cứ: Khoản 5 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 166, Điều 201, khoản 2 Điều 227; khoản 2, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 653 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 202, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Phùng X về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Võ Văn M và cụ Dương Thị B3 chết để lại theo quy định của pháp luật, bà xin nhận hiện vật gồm: Đối với căn nhà quán, diện tích 26,8m², đất ODT, thửa đất số 65, TBĐ số 01, tọa lạc tại số B đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, yêu cầu chia đối với số tiền do Nhà nước bồi thường là 540.220.515 đồng; Một căn nhà đất diện tích 52,2m², đất ODT, thửa đất số 37, TBĐ số 02, tọa lạc tại số A đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Một căn nhà đất sau khi bị thu hồi diện tích còn lại là 290,8m², đất CLN, thửa đất số 131, TBĐ số 46, tọa lạc tại số E đường K, Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu chia số tiền do Nhà nước bồi thường đối với đất là 184.540.000 đồng; Một phần đất diện tích 1.980,2m², đất LUC, thửa đất số 93, TBĐ số 46, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Một phần đất diện tích 4.164,5m², đất LUC, thửa đất số 32, TBĐ số 46, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (các thửa đất nêu trên và tài sản trên đất do phía gia đình bị đơn đang quản lý, sử dụng). Và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 205, do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 08/5/2009 cho ông Võ Phước H đứng tên đối với thửa đất số 37, TBĐ số 02, tọa lạc tại số nhà A, đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/9/2023, nguyên đơn, bà Võ Thị Phùng X kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bà X giữ nguyên kháng cáo và trình bày:
Xác nhận lại hai tên Vương Thị B4 và Dương Thị B3 là cùng một người và cụ M chỉ có một người vợ. Về xác nhận cha mẹ con: Vụ án này đã kéo dài rất nhiều năm, trải qua nhiều cấp xét xử liên quan đến xác định hành vi nuôi con nuôi. Tòa án đã có văn bản hỏi ý kiến cơ quan chuyên môn thì bà X không phải con ruột
của cụ M, cụ B3. Khi làm thủ tục thì ông H và bà X đều làm giấy khai sinh theo hướng là con ruột. Thẻ căn cước công dân cấp năm 1970 và bản khai sinh ghi rõ họ tên cha mẹ là cụ M, cụ B3 nên có cơ sở xác định bà X là con nuôi của cụ M, cụ B3.
Tại Công văn số 101/HTQT-HT ngày 08/3/2019 của Cục con nuôi Bộ Tư pháp nêu rõ, nếu trong trường hợp khai sinh của bà X là hợp lệ thì có căn cứ xác định bà X là con nuôi của cụ M. Căn cứ vào các tài liệu nêu trên có thể khẳng định giữa cụ M và bà X có quan hệ là con nuôi.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà X, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà X.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về tố tụng:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bà Võ Thị Phùng X làm trong hạn luật định, đúng hình thức.
Về nội dung:
Giấy khai sinh của bà X đăng ký ghi tên “Võ Thị Phùng X; tên họ cha là ông Võ Văn M; tên họ mẹ là bà Dương Thị B3”, tên “người khai là ông Võ Văn M”. Như vậy, về mặt pháp lý thì cụ M, cụ B3 là cha mẹ của bà X. Tuy thời điểm năm 1954, pháp luật quy định: Việc nuôi con nuôi phải được ghi chú bên lề giấy khai sinh của con nuôi trong vòng 03 tháng. Tuy nhiên, người lập khai sinh không thực hiện, người kê khai không biết quy định này để yêu cầu thì không thể chỉ dựa vào thiếu sót này để khẳng định bà X không phải là con nuôi của cụ M, cụ B3, trong khi đó, chính các con của bị đơn thừa nhận giấy khai sinh này là có thật.
Bà C và một số người khác (là em và cháu của cụ M) xác định bà X, ông H đều là con nuôi của cụ M, cụ B3 là có cơ sở, vì họ là người trong gia tộc của cụ M nên biết rõ sự việc. Hơn nữa, những người này không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ngoài ra, bà Ê là người cao tuổi, sống trực tiếp tại địa phương, biết rõ sự việc, không bà con gì với hai bên đương sự cũng xác định bà X, ông H đều là con nuôi của cụ M, cụ B3.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào các Bản kê khai nhận khẩu do cụ B3 lập ngày 21/3/1989, tờ khai Tông chỉ của cụ B3 ngày 22/4/2003 đều không có tên của bà X để xác định bà X không phải là con nuôi của cụ M, cụ B3 là thiếu khách quan, vì pháp luật về nuôi con nuôi, nhận con nuôi không bắt buộc người được nhận làm con nuôi phải ở chung và phải có tên trong hộ khẩu của người nuôi con nuôi.
Lời khai của bà X tại biên bản hòa giải của C2, thành phố S không trùng khớp thời điểm bà X được cụ M, cụ B3 nhận làm con nuôi không phải là căn cứ xác định bà X không phải là con nuôi của cụ M, cụ B3; đồng thời, bản án sơ thẩm cũng xác nhận: Việc cụ M, cụ B3 đứng tên đăng ký khai sinh cho bà X chỉ để bà X được hưởng trợ cấp khi cụ M đi lính cho chế độ cũ, chứ bà X không phải là con nuôi của cụ M, cụ B3. Mặt khác, tại thời điểm cụ M kê khai giấy khai sinh thì bà
X còn nhỏ, việc làm giấy khai sinh thì bà X chỉ nghe nói lại nên không thể dựa vào những lời khai thiếu căn cứ pháp lý này của bà X để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Từ khi được cụ M, cụ B3 đăng ký khai sinh thì bà X vẫn sử dụng giấy khai sinh này làm lý lịch bản thân, thực hiện các giao dịch khác, như trong thiệp cưới của mình bà X vẫn để tên cha mẹ của bà X là cụ M, cụ B3, trong khi cụ M, cụ B3 còn sống cũng không phản đối hay khiếu nại gì về việc này.
Bà X khởi kiện tranh chấp gồm 05 khối tài sản là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.164,5m²; thửa đất số 93, tờ bản đồ số 46, diện tích 1.980,2m². Khi giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào lời khai của người làm chứng để xác định các tài sản này không phải là di sản của cụ M, cụ B3 để lại mà không tiến hành thu thập chứng cứ chứng minh các thửa đất này do ông H nhận chuyển nhượng là vi phạm thủ tục tố tụng.
Như vậy, có cơ sở xác định bà X là con nuôi của cụ M, cụ B3. Tuy nhiên, do việc đánh giá, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bà X, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, bà Võ Thị Phùng X kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
[1] Nguyên đơn cho rằng mình là con nuôi của cụ M, cụ B3 theo Giấy khai sinh cấp ngày 06/5/1954, Trích lục bộ khai sinh và T5 căn cước ngày 17/01/1970 nên yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ M, cụ B3 theo pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn không thừa nhận bà X là con nuôi của cụ M, cụ B3 nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét trình bày và yêu cầu của các đương sự, thấy rằng:
[1.1] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập chứng cứ để xác định bà X có phải là con nuôi của cụ M, cụ B3 hay không là đúng quy định.
[1.2] Tại Công văn số 1672/STP-HCTP, ngày 22/7/2019 của Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (bút lục số 1226), có nội dung: Sổ bộ hộ tịch và hồ sơ lưu trữ tại Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng từ năm 1975 trở về trước của tỉnh đã thất lạc, nên Giấy khai sinh của bà X được cấp năm 1954 không còn bộ lưu. Vì vậy, Sở Tư pháp không thể xác định được việc cấp Giấy khai sinh có đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm đó hay không. Còn đối với giấy tờ được cấp vào giai đoạn năm 1954 không
thể hiện là con nuôi hay con ruột nên Sở Tư pháp không có cở sở trả lời cho Tòa án.
[1.3] Tại Công văn số 139/CCN-PL&QLCNTN, ngày 15/3/2019 của Cục con nuôi Bộ Tư pháp (bút lục số 1218) xác định: Giấy khai sinh được cấp từ thời kỳ pháp thuộc không còn lưu trữ. Vào thời điểm năm 1954, việc nuôi con nuôi tại miền N Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ D2 luật giản yếu 1883, tại thiên số 8 của Bộ dân luật đăng trên công báo của Pháp ngày 11/11/1883, có nêu: “Việc nuôi con nuôi phải được ghi chú trong sổ đăng ký khai sinh nơi thường trú của người nhận con nuôi và ghi chú bên lề Giấy khai sinh của con nuôi trong vòng 03 tháng”. Tuy nhiên, Giấy khai sinh của bà X không ghi chú bên lề Giấy khai sinh, nên chưa đủ cơ sở xác định bà X là con nuôi của cụ M và cụ B3.
[1.4] Tại Bản khai nhân khẩu NK 1, mẫu số 0421 NK do cụ M khai ngày 21/3/1989 (bút lục số 1297) và tại Bản khai nhân khẩu NK 1, mẫu số 0421 NK do cụ B3 khai ngày 21/3/1989 (bút lục số 1298) thì cụ M và cụ B3 đều khai chỉ có một con duy nhất là ông H, không thể hiện có bà X trong Bản khai nhân khẩu. Tại Tờ khai tông chỉ của cụ B3 ngày 22/4/2003 (bút lục số 78), cụ M khai: Cụ M và cụ B3 chung sống với nhau có 01 người con duy nhất là ông H, vợ chồng cụ không có con riêng cũng như con nuôi.
[1.5] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà X không phải là con ruột và cũng không phải là con nuôi của cụ M và cụ B3 là có căn cứ, phù hợp với xác nhận của người làm chứng là các ông (bà) Thạch Na R, Vương Minh C1, Vương Thị L1, Thạch Thị H3, Phạm Anh T6, Trần Văn H4, Lê Trường T7, Trần Thu Đ1 xác định bà X không phải là con nuôi của cụ M, cụ B3 và bà X cũng không sống chung nhà với cụ M, cụ B3; bà X kêu cụ M, cụ B3 bằng “cũ, kiểm” (các bút lục 265, 266, 267, 268, 269, 766, 1760, 1762, 1763).
[2] Mặc dù, giấy khai sinh của bà X ghi cụ M và cụ B3 là cha, mẹ nhưng những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định bà X không phải là con nuôi của cụ M, cụ B3; đồng thời, bà X cũng không sống chung nhà với cụ M, cụ B3 nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi. Việc cụ M đăng ký để được cấp giấy khai sinh cho bà X là để bà X được hưởng chế độ trợ cấp khi cụ M đi lính chế độ cũ từ năm 1951 và giải ngũ vào năm 1958 như bị đơn trình bày là có căn cứ. Thực tế, bà X có sử dụng giấy khai sinh do cụ M, cụ B3 lập trong quá trình sinh sống... nhưng đây không phải là căn cứ để xác định bà X là con nuôi của cụ M, cụ B3.
[3] Do bà X không phải là con ruột, con nuôi của cụ M và cụ B3 nên bà X yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ M và cụ B3 chết để lại không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là đúng pháp luật.
[4] Việc Viện kiểm sát cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ nguồn gốc thửa đất số 32, diện tích 4.164,5m² và thửa đất số 93, diện tích 1.980,2m², từ đó đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không cần thiết do bà X không thuộc trường hợp được hưởng di sản của hai cụ để lại.
[5] Bà X kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà X, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ý kiến
của Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Bà X được miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 653 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 202, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Phùng X.
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 62/2023/DS-ST ngày 12 tháng 09 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Võ Thị Phùng X về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Võ Văn M và cụ Dương Thị B3 chết để lại theo quy định của pháp luật, gồm:
Căn nhà quán, diện tích 26,8m², loại đất ODT, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại số B đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Yêu cầu chia đối với số tiền do Nhà nước bồi thường là 540.220.515 (Năm trăm bốn mươi triệu, hai trăm hai mươi nghìn, năm trăm mười lăm) đồng;
Căn nhà đất diện tích 52,2m², loại đất ODT, thửa đất số 37, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại số A đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng;
Căn nhà đất sau khi bị thu hồi diện tích còn lại là 290,8m², loại đất CLN, thửa đất số 131, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại số E đường K, Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu chia số tiền do Nhà nước bồi thường đối với đất là 184.540.000 (Một trăm tám mươi bốn triệu, năm trăm bốn mươi nghìn) đồng;
Diện tích 1.980,2m², loại đất LUC, thửa đất số 93, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng;
Diện tích 4.164,5m², loại đất LUC, thửa đất số 32, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 205, do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 08/5/2009 cho ông Võ Phước H đứng tên đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại số nhà A, đường C, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Võ Thị Phùng X phải chịu toàn bộ chi phí là 40.407.000 (Bốn mươi triệu, bốn trăm linh bảy nghìn) đồng và đã nộp xong.
Ông Võ Phước H phải chịu 1.000.000 (Một triệu) đồng và đã nộp xong.
- Án phí:
- Án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị Phùng X được miễn. Hoàn trả lại cho bà Võ Thị Phùng X số tiền 6.850.000 (Sáu triệu, tám trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng ấn phí đã nộp tại Biên lai thu số 009858 ngày 26/11/2009 của Thi hành án dân sự thành phố S.
- Án phí phúc thẩm: Bà Võ Thị Phùng X được miễn.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 601/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp yêu cầu chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 601/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
