|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 600/2024/HS-PT Ngày: 29/7/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đặng Đình L; |
| Các Thẩm phán: | Ông Thái Duy N; |
| Bà Lê Thị M. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật P, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 595/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo La Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của các bị hại, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
1. Bị cáo bị kháng cáo: La Thị V, sinh năm 1985 (tên gọi khác: không); Nơi cư trú: thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: lớp 10/12; bố: La Văn Đ, sinh năm 1957; mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; chồng: La Văn V1, sinh năm 1981; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không có. Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/4/2023; Quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 22/5/2023; Bị bắt tạm giam ngày 26/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Ông Nguyễn Đình T - Luật sư Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
2. Bị hại có kháng cáo:
- + Bà La Thị H, sinh năm 1967; Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1977; Bà Trương Thị L1, sinh năm 1966; Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1993; Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988; Bà Phạm Thị L2, sinh năm 1956; Bà Phạm Thị L3, sinh năm 1974; Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1958; Bà Ngô Thị T3, sinh năm 1975; Bà Lê Thị L4, sinh năm 1981 (đều có mặt).
- + Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969; Bà Phạm Thị P, sinh năm 1970; Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1973; Bà Đỗ Thị T4, sinh năm 1994; Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1966; Bà La Thị Y, sinh năm 1983; Bà La Thị H4, sinh năm 1983; Ông Ngô Thanh C, sinh năm 1987; Bà La Thị H5, sinh năm 1952; Bà Vũ Thị H6, sinh năm 1966; Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1986 (đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
- + Bà Ngô Thị H7, sinh năm 1977 (chết ngày 27/3/2024);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H7 có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1975 (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
Đều cư trú tại: Thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2017, La Thị V vừa tham gia chơi phường (họ) với vai trò là người đóng tiền họ cho chủ phường, vừa là chủ phường nhận tiền họ của nhiều người thuộc thôn C, V đứng ra tổ chức nhiều dây họ khác nhau. Thời gian này tất cả những người tham gia chơi phường đều nhận được đủ tiền gốc, lãi nên rất tin tưởng V. Đầu năm 2020, V tiếp tục tổ chức 04 dây họ mới và kêu gọi mọi người tiếp tục tham gia chơi họ. Quy ước mỗi dây họ tối đa 20 người, thu tiền họ vào các ngày 05, 15, 20, 25 hàng tháng, mức tiền của mỗi dây họ đóng từ 02 triệu đồng/tháng đến 05 triệu đồng/tháng tùy điều kiện của người tham gia, hết một tháng thì tất cả những người tham gia dây họ sẽ đóng tiền cho V, lần lượt từng người trong số 20 người sẽ được lấy tổng số tiền của dây họ. Nếu người nào lấy tiền họ trước, đến các tháng tiếp theo sẽ phải đóng thêm tiền lãi cho V, cụ thể: Mức đóng 02 triệu đồng/tháng, đóng lãi 200.000 đồng; mức đóng 03 triệu đồng/tháng, đóng lãi 400.000 đồng; mức đóng 4 triệu đồng/tháng, đóng lãi 500.000 đồng; mức đóng 05 triệu đồng/tháng, đóng lãi 600.000 đồng. Khi tham gia chơi họ, có người tham gia đóng tiền từ đầu, có người tham gia sau nên số tiền đóng họ của từng người là khác nhau, vì vậy những người tham gia đều không biết trong dây họ của mình có những ai tham gia, số tiền đã đóng cụ thể của từng người như thế nào. Tất cả những người tham gia 04 dây họ này đều ở thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang. V nhận họ của tất cả những người có nhu cầu chơi cho đến khi đủ 21 người trong một dây họ (gồm cả chủ họ). Tuy nhiên, từ thời điểm tổ chức 04 dây họ mới, V đã sử dụng tiền của các dây họ này để chi tiêu cá nhân, dẫn đến việc bị thất thoát tiền, không có tiền để trả cho những người đến lượt lấy tiền. Để những người này tin tưởng, tiếp tục đóng tiền họ của những tháng tiếp theo, V đã nói dối là đã có người khác xin lấy tiền họ trước rồi. Ngoài ra, một số người khi đến lượt lấy họ thì V nói dối là cần tiền để đầu tư kinh doanh mỹ phẩm, rồi hứa hẹn trả lãi hoặc chia sẻ lợi nhuận hàng tháng để những người này tin tưởng. Quá trình đóng tiền họ cho V, có người đưa tiền mặt (trong đó có người viết giấy tờ xác nhận, có người không viết giấy tờ xác nhận); có người chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng S, Ngân hàng A của V. Ngoài ra, một số người cung cấp tài liệu gồm các nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Zalo, Messenger Facebook với La Thị V, thể hiện nội dung đóng tiền họ cho V. Đối với các dây họ mà V tham gia với vai trò là người chơi, V đã nói dối với các chủ phường là cần tiền vì người thân có việc như xây nhà, mua đất, kinh doanh, chữa đẻ... để xin lấy tiền họ trước hoặc vay tiền của những người này. Đến tháng 4/2022, do không còn khả năng chi trả tiền họ cho mọi người, không có tiền để tiếp tục đóng tiền họ, V đã bỏ trốn khỏi địa phương. Bằng các thủ đoạn nêu trên, La Thị V đã chiếm đoạt của 23 người bị hại, với tổng số tiền là 4.817.700.000 đồng (Bốn tỷ tám trăm mười bấy triệu, bẩy trăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
- Chiếm đoạt của bà La Thị H số tiền 44.000.000 đồng: Bà La Thị H tham gia 01 dây họ của V, mức đóng 02 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 25/6/2020 đến ngày 25/3/2022, bà H đóng cho V 22 tháng = 44.000.000 đồng, số tiền V chiếm đoạt của bà H là 44.000.000 đồng, bà H yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị B số tiền 35.000.000 đồng: Bà Nguyễn Thị B tham gia 01 dây họ của V, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 15/10/2021 đến ngày 15/4/2022 bà B đóng cho V 07 tháng = 35.000.000 đồng, số tiền V chiếm đoạt của bà B là 35.000.000 đồng, bà B yêu cầu V bồi thường cho bà số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Phạm Thị P số tiền 86.000.000 đồng: Bà Phạm Thị P tham gia 01 dây họ đóng 2 suất gồm: Suất 1 mức đóng 02 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/9/2020 đến ngày 20/3/2022 bà P đóng cho V 18 tháng = 36.000.000 đồng; suất thứ 2, đóng mức 04 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/01/2021 đến ngày 20/3/2022, bà P đóng cho V 14 tháng = 56.000.000 đồng. Đối với suất 1, khi đến lượt bà P lấy tiền họ thì V đã vay 30.000.000 đồng của bà P (V nói dối vay tiền để đầu tư kinh doanh mỹ phẩm). Tổng số tiền V chiếm đoạt của bà P là 86.000.000 đồng, bà P yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Phạm Thị H2 số tiền 80.000.000 đồng: Bà Phạm Thị H2 tham gia 01 dây họ của V, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 25/11/2020 đến ngày 25/3/2022, bà H2 đóng cho V 16 tháng = 80.000.000 đồng, số tiền V chiếm đoạt của bà H2 là 80.000.000 đồng, bà H2 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Đỗ Thị H1 số tiền 125.500.000 đồng: Bà Đỗ Thị H1 tham gia 02 dây họ của V, cụ thể: Dây 1 đóng 02 suất, mỗi suất đóng 05 triệu đồng/01 tháng từ ngày 05/10/2021 đến ngày 05/04/2022 bà H1 đóng cho V 7 tháng = 70.000.000 đồng; Dây 2 đóng 01 suất 03 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 15/4/2020 đến ngày 15/4/2022 bà H1 đóng cho V 24 tháng = 72.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H1 đóng cho V là 142.000.000 đồng. Do bà Nguyễn Thị T6 có tham gia đóng 01 suất họ 05 triệu đồng/ tháng đã được lấy tiền họ, quá trình tiếp tục đóng họ thì V bỏ trốn nên bà T6 chưa đóng 03 tháng = 16.500.000 đồng cho V. Số tiền này giữa V, bà T6 và bà H1 đã thỏa thuận bà T6 trả cho bà H1 để trừ vào số tiền V còn nợ bà H1. Như vậy, số tiền V chiếm đoạt của bà H1 là 125.500.000 đồng, bà H1 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Trương Thị L1 số tiền 75.000.000 đồng: Bà Trương Thị L1 tham gia 01 dây họ của V, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 25/01/2021 đến ngày 25/4/2022, bà L1 đóng cho V 15 tháng = 75.000.000 đồng, số tiền V chiếm đoạt của bà L1 là 75.000.000 đồng, bà L1 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Lê Thị L4 số tiền 444.000.000 đồng: Bà Lê Thị L4 tham gia 02 dây họ của V, cụ thể: Dây 1 đóng 04 suất trong đó: 02 suất đóng 05 triệu đồng/tháng, từ ngày 15/3/2021 đến tháng 15/4/2022 bà Q đóng cho V 13 tháng = 130.000.000đồng; 02 suất đóng 03 triệu đồng/ tháng, từ ngày 15/4/2020 đến ngày 15/4/2022, bà Q đóng cho V 24 tháng = 144.000.000 đồng; Dây 2 đóng 02 suất, mỗi suất đóng 05 triệu/01 tháng từ ngày 20/11/2020 đến ngày 20/4/2022, bà Q đóng cho V 17 tháng = 170.000.000 đồng. Tổng số tiền V chiếm đoạt của bà Q là 444.000.000 đồng, bà Q yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Đỗ Thị M số tiền 628.000.000 đồng: Bà Đỗ Thị M tham gia 04 dây họ của V, cụ thể: Dây 1 đóng 02 suất, mỗi suất 03 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 05/01/2021 đến ngày 05/3/2022 bà M đóng cho V 14 tháng = 84.000.000 đồng; Dây 2 đóng 02 suất, mỗi suất 03 triệu đồng/01 tháng trong đó: suất 1 từ ngày 15/5/2020 đến ngày 15/02/2022, bà M đóng cho V 21 tháng = 63.000.000 đồng, suất 2 từ ngày 15/3/2021 đến ngày 15/3/2022, bà M đóng cho V 12 tháng = 36.000.000 đồng; Dây 3 đóng 01 suất 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/10/2021 đến ngày 20/3/2022, bà M đóng cho V 18 tháng = 90.000.000 đồng; Dây 4 đóng 01 suất 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 25/01/2021 đến ngày 25/4/2022, bà M đóng cho V 15 tháng = 75.000.000 đồng. Ngoài ra, V còn vay của bà M 280 triệu đồng (V nói dối vay tiền để đầu tư kinh doanh mỹ phẩm và hứa chia sẻ lợi nhuận). Tổng số tiền V chiếm đoạt của bà M là 628.000.000 đồng, bà M yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Đỗ Thị T4 số tiền 25.000.000 đồng: Bà Đỗ Thị T4 tham gia 01 dây họ của V, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/10/2021 đến ngày 20/3/2022, bà T4 đóng cho V 05 tháng = 25.000.000 đồng, số tiền V chiếm đoạt của bà T4 là 25.000.000 đồng, bà T4 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H3 số tiền 350.000.000 đồng: Bà Nguyễn Thị H3 tham gia 01 dây họ của V, đóng 02 suất 05 triệu đồng/01 tháng, trong đó: Suất 1 từ ngày 25/01/2021 đến ngày 25/3/2022, bà H3 đóng cho V 14 tháng = 70.000.000 đồng; suất 2 từ ngày 25/11/2020 đến ngày 25/3/2022, bà H3 đóng cho V 16 tháng = 80.000.000 đồng. Ngoài ra, V còn vay của bà H3 200.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân. Tổng số tiền V chiếm đoạt của bà H3 là 350.000.000 đồng, bà H3 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị T1 số tiền 96.000.000 đồng: Bà Nguyễn Thị T1 tham gia 01 dây họ của V, mức đóng 04 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 15/3/2020 đến ngày 15/3/2022, bà T1 đóng cho V 24 tháng = 96.000.000 đồng, số tiền V chiếm đoạt của bà L1 là 96.000.000 đồng, bà Thương yêu cầu V2 bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V2 chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Phạm Thị L2 số tiền 92.000.000 đồng: Bà Phạm Thị L2 tham gia 01 dây họ của V2, mức đóng 04 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 15/4/2020 đến ngày 15/3/2022, bà L2 đóng cho V2 23 tháng = 92.000.000 đồng, số tiền V2 chiếm đoạt của bà L2 là 92.000.000 đồng, bà L2 yêu cầu V2 bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V2 chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của các bà Phạm Thị L3, Đỗ Thị T2, La Thị Y và La Thị H4, mỗi người 90.000.000 đồng: Bà Phạm Thị L3, Đỗ Thị T2, La Thị Y và La Thị H4 tham gia 01 dây họ của V2, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/10/2020 đến ngày 20/3/2022, bà L3, bà T2, bà Y và bà H4 mỗi người đóng cho V2 18 tháng = 90.000.000 đồng, số tiền V2 chiếm đoạt của bà L3, bà T2, bà Y và bà H4 mỗi người 90.000.000 đồng. Bà L3, bà T2, bà Y và bà H4 yêu cầu V2 bồi thường số tiền chiếm đoạt của các bà nêu trên, đến nay V2 chưa bồi thường cho ai.
- Chiếm đoạt của ông Ngô Thanh C số tiền 50.000.000 đồng: Ông Ngô Thanh C tham gia 01 dây họ của V2, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/9/2021 đến ngày 20/6/2022, ông C đóng cho V2 10 tháng = 50.000.000 đồng, số tiền V2 chiếm đoạt của ông C là 50.000.000 đồng, ông C yêu cầu V2 bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V2 chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Ngô Thị H7 số tiền 30.000.000 đồng: Bà Ngô Thị H7 tham gia 01 dây họ của V2, mức đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 05/11/2021 đến ngày 05/4/2022, bà H7 đóng cho V2 06 tháng = 30.000.000 đồng, số tiền V2 chiếm đoạt của bà H7 là 30.000.000 đồng, bà H7 yêu cầu V2 bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V2 chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Ngô Thị T3 số tiền 115.000.000 đồng: Bà Ngô Thị T3 quen biết La Thị V do ở cùng thôn, quá trình quen biết, V nói dối với bà T3 là đang cần tiền để đầu tư kinh doanh mỹ phẩm. Bà T3 tưởng V nói thật nên ngày 30/12/2021 (âm lịch) và ngày 04/4/2022, bà T3 lần lượt cho V vay số tiền 10.000.000 đồng và 120.000.000 đồng. Do chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 1981, trú tại thôn C có tham gia đóng 01 suất họ 05 triệu đồng/tháng, đã được lấy tiền họ, quá trình tiếp tục đóng họ thì V bỏ trốn nên chị B1 còn đóng thiếu 03 tháng = 15.000.000 đồng cho V. Số tiền này giữa V, chị B1 và bà T3 đã thỏa thuận là trả cho bà T3 để trừ vào số tiền V còn nợ bà T3. Do đó số tiền V chiếm đoạt của bà T3 là 115.000.000 đồng. Bà T3 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà La Thị H5 số tiền 284.200.000 đồng: Bà La Thị H5 tham gia 02 dây gồm: Dây 1 đóng 03 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 15/5/2020 đến ngày 15/3/2022, bà H5 đóng cho V 22 tháng = 66.000.000 đồng; Dây 2 đóng 05 triệu đồng/01 tháng, từ ngày 20/10/2020 đến ngày 20/3/2022, bà H5 đóng cho V 18 tháng = 90 triệu đồng. Ngoài ra, V còn vay của bà H5 160 triệu đồng (V nói dối vay tiền để đầu tư kinh doanh mỹ phẩm). Tổng số tiền V nhận tiền họ và tiền vay bà H5 là 316.000.000 đồng. Do anh La Văn M1 và anh La Văn T7 có tham gia chơi họ đều đã được lấy tiền, quá trình tiếp tục đóng họ thì V bỏ trốn nên anh T và anh M1 đều chưa đóng tiền 03 tháng với tổng số tiền của 2 người là 31.800.000 triệu cho V. Số tiền này anh M1 và anh T7 đã thỏa thuận là trả cho bà H5 để trừ vào số tiền V còn nợ bà H5. Do đó số tiền V chiếm đoạt của bà H5 là 284.200.000 đồng. Bà H5 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Lê Thị L4 số tiền 455.000.000 đồng: Bà Lê Thị L4 là chủ phường (họ) đứng ra tổ chức nhiều dây họ khác nhau từ năm 2013. Đầu năm 2020, V tham gia nhiều dây họ của bà L4, quá trình tham gia V đều nói dối với các lý do như: Người thân của V xây nhà, làm ăn, mua đất... để xin lấy tiền họ trước. Do tin tưởng V nên bà L4 đồng ý cho V lấy tiền họ trước, các dây họ cụ thể như sau: Dây 1 gồm 20 người đóng 05 triệu đồng/01 tháng, bắt đầu từ tháng 01/2020 đến tháng 6/2022, V đóng 01 suất được 17 tháng = 85.000.000 đồng, đã lấy họ trước 100.000.000 đồng, dây họ này V nợ 15.000.000 đồng; Dây 2 gồm 20 người đóng 05 triệu đồng /01 tháng, bắt đầu từ tháng 01/2021 đến tháng 8/2022, V đóng 03 suất, mỗi suất được 15 tháng = 225.000.000 đồng, đã lấy họ trước cả 3 suất là 300.000.000 đồng, dây họ này V nợ 75.000.000 đồng; Dây 3 gồm 20 người đóng 05 triệu đồng /01 tháng, bắt đầu từ tháng 7/2021 đến tháng 3/2022, V đóng 01 suất được 9 tháng = 45.000.000 đồng, đã lấy họ trước 100.000.000 đồng, dây họ này V nợ 55.000.000 đồng; Dây 4 gồm 12 người đóng 10 triệu đồng /01 tháng, bắt đầu từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022, V đóng 01 suất được 9 tháng = 90.000.000 đồng, đã lấy họ trước 120.000.000 đồng, dây họ này V nợ 30.000.000 đồng; Dây 5 gồm 20 người đóng 05 triệu đồng /01 tháng, bắt đầu từ tháng 12/2021 đến tháng 7/2022, V đóng 01 suất được 3 tháng = 15.000.000 đồng, đã lấy họ trước 100.000.000 đồng, dây họ này V nợ 85.000.000 đồng; Dây 6 gồm 16 người đóng 05 triệu đồng /01 tháng, bắt đầu từ tháng 01/2022 đến tháng 4/2022, V tham gia 03 suất, mỗi suất đóng được 3 tháng = 45.000.000 đồng, đã lấy họ trước 240.000.000 đồng, dây họ này V nợ 195.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của các dây họ trên V đã bỏ trốn, chiếm đoạt của bà L4 tổng số tiền họ là 455.000.000 đồng. Bà L4 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Vũ Thị H6 số tiền 1.110.000.000 đồng: Bà Vũ Thị H6 là chủ phường (họ) đứng ra tổ chức nhiều dây họ khác nhau từ năm 2019. Đầu năm 2021, V tham gia các dây họ của bà H6, sau đó hàng tháng V đều xin lấy tiền họ trước với lý do là để trả cho những người tham gia chơi họ trong các dây họ do V làm chủ phường hoặc để V đầu tư kinh doanh mỹ phẩm rồi chia lợi nhuận. Do tin tưởng nên từ ngày 20/01/2021 đến ngày 20/2/2022, bà H6 đã giao cho V với tổng số tiền là 1.260.000.000 đồng (Việc giao nhận tiền đều có viết giấy tờ xác nhận với nhau). Tổng số tiền của các dây họ V đã đóng cho bà H6 là 725.000.000 đồng. Ngoài ra V còn vay của bà H6 tổng số tiền 575.000.000 đồng để sử dụng vào việc cá nhân, sau đó V bỏ trốn khỏi địa phương. Như vậy, tổng số tiền họ và tiền vay V chiếm đoạt của bà H6 là 1.110.000.000 đồng. Bà H6 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
- Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị T5 số tiền 333.000.000 đồng: Bà Nguyễn Thị T5 làm chủ phường (họ) đứng ra tổ chức nhiều dây họ khác nhau từ năm 2013. Tháng 01/2021, bà T5 tổ chức 03 dây họ khác nhau với số tiền thu là 04 triệu đồng/01 tháng, V có tham gia đóng tiền cả 3 dây họ này. Quá trình tham gia, V đều xin lấy tiền họ trước với lý do như: Anh em của V xây nhà, làm ăn, mua đất... và hứa hẹn sẽ trả lại ngay khi bà T5 cần. Do tin tưởng nên bà T5 đồng ý cho V lấy tiền họ trước. Trong đó, dây 1 từ ngày 25/6/2020 đến 25/7/2022, V tham gia 02 suất, đã đóng được 22 tháng = 176.000.000 đồng, V lấy trước 2 suất = 200.000.000 đồng. Dây họ này V còn phải đóng 24.000.000 đồng, 02 dây họ còn lại V đều đóng tiền đầy đủ. Ngoài ra, từ tháng 2/2021 đến tháng 11/2021, V còn vay của bà T5 tổng số tiền 324.000.000 đồng với mục đích như: Đi chữa đẻ, giao tiền cho những người chơi họ trong dây phường do V làm chủ.... Do anh La Văn T8 có tham gia đóng 01 suất họ 05 triệu đồng/tháng cho V, anh T8 đã được lấy họ số tiền 110.600.000 đồng, quá trình tiếp tục đóng họ thì V bỏ trốn nên anh T8 chưa đóng 03 tháng = 15.000.000 cho V. Số tiền này giữa V, anh T8 và bà T5 đã thỏa thuận là trả cho bà T5 để trừ vào số tiền V còn nợ bà T5. Như vậy, tổng số tiền họ và tiền vay V chiếm đoạt của bà T5 là 333.000.000 đồng. Bà T5 yêu cầu V bồi thường số tiền chiếm đoạt trên, đến nay V chưa bồi thường.
Như vậy, bằng các thủ đoạn gian dối, đưa ra các thông tin không đúng sự thật, La Thị V đã lừa đảo chiếm đoạt của 23 người bị hại với tổng số tiền là 4.817.700.000 đồng (Bốn tỷ tám trăm mười bẩy triệu, bẩy trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra bị cáo V khai vay tiền của các bị hại có thỏa thuận lãi suất, sau đó V cho chị Nguyễn Thị Thu P1, sinh năm 1985, sống tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam vay và đầu tư mỹ phẩm, cụ thể: Vay bà Phạm Thị P 30.000.000 đồng, lãi suất 600.000 đồng/tháng; Vay bà Đỗ Thị M 280.000.000 đồng, lãi suất là 2.000.000 đồng/100 triệu đồng/tháng; Vay bà Nguyễn Thị H3 200.000.000 đồng, lãi suất 5.000.000 đồng/tháng; Vay bà Ngô Thị T3 130.000.000 đồng, lãi suất là 1.800.000 đồng/tháng; Vay bà La Thị H5 160.000.000 đồng, lãi suất 2.400.000 đồng/tháng. Căn cứ tài liệu điều tra thấy ngoài lời khai của bị can La Thị V thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nội dung V chuyển tiền cho chị P và đầu tư kinh doanh mỹ phẩm, V không cung cấp được thông tin lý lịch cụ thể của chị P do đó không có căn cứ làm rõ nội dung này. Bị can V khai hàng tháng nhận số tiền 100.000.000 đồng của bà Vũ Thị H6 nhưng chỉ được lấy 90.000.000 đồng, phải trả lãi 10.000.000 đồng (không thể hiện thời hạn vay); Đối với các khoản vay thỏa thuận giữa V và những người nêu trên đều nhằm mục đích duy trì các dây phường (họ) của V trong quá trình V thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy mức lãi suất cho vay của những người nêu trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Ngoài số tiền họ V chiếm đoạt đã được chứng minh làm rõ, thì bà La Thị H5 còn trình bày đã giao cho V tổng số tiền 1.000.016.000 đồng, là tiền bà H5 nhận của nhiều người để đóng họ cho V; bà Nguyễn Thị H3 trình bày tham gia 03 dây họ với V, đã đóng cho V tổng số tiền là 494.000.000 đồng, tuy nhiên bị can V không thừa nhận các nội dung này, việc đóng tiền cho bị can V thì bà H5, bà H3 không viết giấy tờ gì với V nên không có căn cứ để kết luận bà H5 và bà H3 đóng số tiền trên. Cơ quan điều tra đã cho bị can V đối chất với bà H5 và bà H3 nhưng các bên giữ nguyên lời khai của mình.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, đã quyết định: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo La Thị V 16 (mười sáu) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2023, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến ngày 22/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, 22 bị hại gồm: Bà La Thị H, bà Nguyễn Thị B, bà Phạm Thị P, bà Phạm Thị H2, bà Đỗ Thị H1, bà Trương Thị L1, bà Đỗ Thị M, bà Đỗ Thị T4, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị L2, bà Phạm Thị L3, bà Đỗ Thị T2, bà La Thị Y, bà La Thị H4, ông Ngô Thanh C, bà Ngô Thị H7 (chết ngày 27/3/2024, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H7 là ông Nguyễn Văn Đ1), bà Ngô Thị T3, bà La Thị H5, bà Lê Thị L4, bà Vũ Thị H6, bà Nguyễn Thị T5 có đơn kháng cáo với cùng nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo La Thị V.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Các bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết, nhất trí bản án sơ thẩm nên không có kháng cáo, trình bày hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng với bị cáo, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, đủ sức răn đe, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo La Thị Vân về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo La Thị V 16 năm tù là thỏa đáng, đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, các bị hại có kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tài liệu gì mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị hại, giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo La Thị V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị hại có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, một số bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về hành vi phạm tội của La Thị V, tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị hại, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đồng tình với kết luận: Đầu năm 2020, La Thị V tổ chức 04 dây họ và kêu gọi mọi người trong thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang tham gia chơi họ, ngoài ra V còn tham gia đóng tiền cho các dây họ khác trong thôn, với vai trò là người chơi họ. Sau đó, V đã sử dụng tiền của các dây họ này để chi tiêu cá nhân, dẫn đến không có tiền để trả cho những người đến lượt lấy tiền họ. Do bị cáo mất khả năng thanh toán, nhưng vẫn tiếp tục huy động các bị hại đóng tiền cho bị cáo để chiếm đoạt. Để những người này tin tưởng, tiếp tục đóng tiền họ, xin lấy tiền họ trước của các dây họ mà V tham gia, vay tiền của các bị hại, V đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật như: Đã có người lấy tiền họ rồi, cần tiền để đầu tư kinh doanh mỹ phẩm, rồi hứa hẹn trả lãi hoặc chia sẻ lợi nhuận... Bằng các thủ đoạn nêu trên, La Thị V đã chiếm đoạt của 23 người bị hại, với tổng số tiền là 4.793.700.000 đồng. Hành vi của La Thị V đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử La Thị V theo tội danh, điểm, khoản, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của các bị hại đề nghị tăng hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản người khác, chỉ vì muốn có tiền tiêu sài, phục vụ nhu cầu cá nhân, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại; phạm tội nhiều lần, chưa khắc phục hậu quả số tiền 4.793.700.000 đồng đã chiếm đoạt. Do vậy, cấp phúc thẩm đồng tình cần có mức hình phạt nghiêm, để giáo dục cải tạo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt La Thị V 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là thỏa đáng. Tại phiên tòa các bị hại có quan điểm, mặc dù biết hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn và con nhỏ, nếu bồi thường một phần sẽ xin giảm nhẹ cho bị cáo, nhưng đến thời điểm hiện tại bị cáo và gia đình chưa bồi thường, đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo; xét thấy, bị cáo rất hối hận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, mong muốn trả nợ cho các bị hại, quyết tâm cải tạo tốt để sớm trở về xã hội có điều kiện trả nợ, với mức án 16 năm là thời gian rất dài, trong khi đó hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, chồng bị bệnh, hai con còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ...; mặt khác, ngoài quan điểm nêu trên, các bị hại đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, với hình phạt 16 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp, không nhẹ, vì vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Xét thấy, các căn cứ, lập luận và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, được chấp nhận.
[5]. Về án phí: Mặc dù kháng cáo không được chấp nhận, nhưng các bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của (22) bị hại gồm: Bà La Thị H, bà Nguyễn Thị B, bà Phạm Thị P, bà Phạm Thị H2, bà Đỗ Thị H1, bà Trương Thị L1, bà Đỗ Thị M, bà Đỗ Thị T4, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị L2, bà Phạm Thị L3, bà Đỗ Thị T2, bà La Thị Y, bà La Thị H4, ông Ngô Thanh C, bà Ngô Thị H7 (chết ngày 27/3/2024, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H7 là ông Nguyễn Văn Đ1), bà Ngô Thị T3, bà La Thị H5, bà Lê Thị L4, bà Vũ Thị H6 và bà Nguyễn Thị T5.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về hình phạt, cụ thể như sau:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo La Thị V 16 (mười sáu) năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2023, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến ngày 22/5/2023.
- Các bị hại gồm: Bà La Thị H, bà Nguyễn Thị B, bà Phạm Thị P, bà Phạm Thị H2, bà Đỗ Thị H1, bà Trương Thị L1, bà Đỗ Thị M, bà Đỗ Thị T4, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị L2, bà Phạm Thị L3, bà Đỗ Thị T2, bà La Thị Y, bà La Thị H4, ông Ngô Thanh C, bà Ngô Thị H7 (chết ngày 27/3/2024, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H7 là ông Nguyễn Văn Đ1), bà Ngô Thị T3, bà La Thị H5, bà Lê Thị L4, bà Vũ Thị H6, bà Nguyễn Thị T5 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình L |
Bản án số 600/2024/HS-PT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 600/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo Giữ nguyên bản án sơ thẩm
