Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 600/2024/HS-PT

Ngày 25 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Đình Thanh
Ông Phạm Văn Công

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 138/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn K do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Th.

- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Văn K, sinh năm 1978 tại tỉnh Nghệ A; nơi thường trú: K p 1, phường Thanh S, thành phố Phan R – Tháp Ch, tỉnh Ninh Th; Nơi cư trú: K p 3, phường Đô V, thành phố Phan R – Tháp C, tỉnh Ninh Th; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: (Không); quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Huỳnh Thị Thanh Th (đã ly hôn năm 2019) và 02 người con; tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 39/2019/HS-PT ngày 26/3/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Th xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chấp hành xong ngày 31/10/2020, chưa được xóa án tích; tiền sự: (Không); nhân thân: Ngày 25/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ A xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo bị tạm giữ: Ngày 16/01/2023; bị cáo bị tạm giam: Ngày 19/01/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn K: Ông Hồ Hoài Nh là Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV Trường M, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Lê Thị Kim Ch, sinh năm 1984; vắng mặt
  2. Địa chỉ cư trú: K p 5, phường Thanh S, thành phố Phan R – Tháp Ch, tỉnh Ninh Th.

  3. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1974; vắng mặt.
  4. Địa chỉ cư trú: K p 3, phường Đài Sơn, thành phố Phan R – Tháp Ch, tỉnh Ninh Th.

  5. Ông Trần Quốc Ph, sinh năm 1987; vắng mặt.
  6. Địa chỉ cư trú: K p 9, phường Mỹ Đ, thành phố Phan R – Tháp C, tỉnh Ninh Th.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1987; vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị Th, sinh năm 1990; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số 121/161, đường Nguyễn Văn B, Kp 11, phường Tân Chánh H, Q 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có công việc ổn định và làm ăn thua lỗ nên Nguyễn Văn K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Từ ngày 23/4/2022 đến ngày 01/6/2022, bằng thủ đoạn sử dụng giấy tờ giả để lừa đảo, Nguyễn Văn K đã thực hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản của 03 cá nhân, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Thông qua mạng xã hội Facebook, K đã sử dụng hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 230, lô LK 6.1 - 2, tờ bản đồ số 5, thuộc phường Thanh S để rao chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà Lê Thị Kim Ch biết được thì liên hệ với K để nhận chuyển nhượng đất trên với giá 1.550.000.000 đồng. K nói với bà Ch rằng thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của K và người tên Huỳnh Thị T (không rõ thông tin, địa chỉ). Ngày 23/4/2022, bà C và K đã lập hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng thửa đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên, theo đó bà C đã 2 lần chuyển tiền cọc với tổng số tiền là 150.000.000 đồng đến tài khoản của K. Đến thời hạn giao đất đã cam kết trong hợp đồng nhưng K không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất trên và cũng không trả lại tiền cọc cho chị C mà chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích cá nhân. Kết quả xác minh xác định thửa đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà Ngô Thị Hồng Ch; bà Ch không bán, tặng cho hay nhờ ai rao bán thửa đất trên, không quen biết Nguyễn Văn K và Huỳnh Thị T.

Vụ thứ hai: Biết được K đang rao bán thửa đất số 107 tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ k p 3, phường Đài S, bà Nguyễn Thị Thu V đã liên hệ với K để thoả thuận chuyển nhượng thửa đất trên. K nói với bà V rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên đang được thế chấp tại ngân hàng, đồng thời đưa cho bà V xem hình ảnh 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Văn K để chị V tin tưởng. Ngày 13/5/2022, K và bà V lập hợp đồng đặt cọc và bà Vân đã chuyển khoản cho K 300.000.000 đồng. Đến thời hạn giao đất đã cam kết trong hợp đồng, K không trả lại tiền cọc cho chị V mà chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích cá nhân. Ngày 10/6/2022, K chuyển nhượng cho chị V quyền sử dụng thửa đất số 146 tờ bản đồ số 71 tại địa chỉ thôn Phú Th, xã Mỹ S, huyện Ninh S, tỉnh Ninh Th để khấu trừ 100.000.000 đồng vào số tiền cọc 300.000.000 đồng; do đó, số tiền còn lại K phải bồi thường cho chị Vân là 200.000.000 đồng. Kết quả xác minh tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Th xác định thửa đất trên không có thật.

Vụ thứ ba: Ngày 28/5/2022, K thuê xe ô tô loại Vios biển số 85A-031.70, trị giá 320.450.000 đồng của ông Trần Quốc Ph (do anh Huỳnh Văn Ch đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô). Giữa K và ông Phong có lập hợp đồng thuê xe. Sau khi nhận được xe, K sử dụng chứng minh nhân dân giả có tên Trần Quốc Ph và hình ảnh của K đưa cho anh Nguyễn Đình T cùng toàn bộ các giấy tờ xe để tạo lòng tin rằng K là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô nói trên, vì vậy anh Tiến tin tưởng và đồng ý cho K cầm cố chiếc ô tô để vay số tiền 70.000.000 đồng. Hai bên lập 01 giấy mượn tiền đề ngày 01/6/2022 do bà Trần Thị Th (vợ ôngT) là người ký giấy cho mượn tiền. Sau khi nhận được tiền, K sử dụng số tiền này cho mục đích cá nhân. Phát hiện xe ô tô của mình bị đem đi thế chấp, ông Ph đã đến gặp ông T thoả thuận đưa lại cho ông T 45.000.000 đồng và nhận lại xe ô tô và làm đơn tố cáo K đến Cơ quan Công an.

Tại Bản kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 22/8/2022, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Ninh Th kết luận: Các chữ viết có nội dung “Nguyễn Văn K” tại các hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất các ngày 23/4/2022; 09/5/2022; 13/5/2022; chữ viết có nội dung “Trần Quốc Ph” tại giấy mượn tiền đề ngày 01/6/2022 đều do Nguyễn Văn K viết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63/KLTS ngày 04/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Phan R – Tháp C, tỉnh Ninh Th kết luận: 01 (một) xe ô tô con BKS 85A-03170 có trị giá là 320.450.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Quốc Ph đã nhận lại xe ô tô BKS 85A-03170 và yêu cầu K bồi thường 60.000.000 đồng (gồm 45.000.000 đồng chuộc xe ô tô và 15.000.000 đồng tiền thuê xe, chi phí đi lại chuộc xe); bà Lê Thị Kim C yêu cầu K bồi thường 150.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thu V yêu cầu K bồi thường 200.000.000 đồng; ông Nguyễn Đình T và bà Trần Thị Th yêu cầu K bồi thường 25.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Th quyết định:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 11 (Mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 04/QĐ/VC3-V1 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự nêu trên, nghị Tòa án cấp phúc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ/VC3-V1 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác và những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Trần Quốc Ph là Bị hại trong vụ án là không đúng vì đối tượng bị cáo K hướng tới để chiếm đoạt là tài sản của ông Nguyễn Đình T và bà Trần Thị Th với số tiền là 70.000.000 đồng; do đó, Bị hại cần xác định lại là ông T, bà Th mà không phải là ông Ph. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên bị cáo phải nộp án phí dân sự đối với số tiền bồi thường cho bị hại là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 136 của Nghị quyết 326/NQ-UTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Người bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập nhưng vắng mặt, đồng thời họ cũng không kháng cáo bản án sơ thẩm và việc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại cũng không làm giảm trách nhiệm hình sự của bị cáo K do bị cáo vẫn phạm vào khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xem xét giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K trình bày: Nhất trí với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại tư cách tố tụng của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Bị hại trong vụ án để sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên phần hình phạt đối với bị cáo K là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Văn K: Thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư và bổ sung ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Văn K nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ/VC3-V1 ngày 18/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh được ban hành đúng luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Do không có công việc ổn định, làm ăn thua lỗ đã khiến cho bị cáo Kiên nảy sinh lòng tham, lợi dụng lòng tin để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại thông qua những thủ đoạn gian dối như làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặt làm giả giấy chứng minh nhân dân. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của 03 bị hại gồm chị Lê Thị Kim C, chị Nguyễn Thị Thu V và anh Trần Quốc Ph là số tiền 770.450.000 đồng.

Với hành vi phạm tội như trên, bị cáo Nguyễn Văn K đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử, mặc dù không kháng cáo nhưng bị cáo có ý kiến đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để sớm trở về với gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã sử dụng các tài liệu, giấy tờ giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo còn làm mất trật tự trị an địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân; bản thân bị cáo cũng đã có một tiền án về cùng tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên lần phạm tội này được xem là tái phạm, đồng thời bị cáo còn có nhân thân xấu. Do đó, cần phải xử phạt mức án đủ nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[2.3] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04 /QĐ/VC3-V1 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:

[2.3.1] Tại phiên tòa, bị cáo K khai về ý thức khi thực hiện hành vi thứ ba (lấy ô tô của ông Phong cầm cố cho ông T, bà Th để vay 70.000.000 đồng) như sau: Mục đích ban đầu của bị cáo khi thuê xe của ông Phong là để nhằm cầm cố cho người khác lấy tiền tiêu xài; trường hợp không cầm cố được sẽ mang trả lại xe cho ông Ph mà không có ý định chiếm đoạt xe. Để tạo lòng tin cho ông T, bà Th tin tưởng mình là chủ sở hữu xe ô tô trên, bị cáo K đã làm giả căn cước công dân mang tên ông Ph để cầm cố xe ô tô cho ông T, bà Th và chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Trên thực tế, sau khi thuê được xe ô tô của ông Ph, bị cáo đã sử dụng Giấy chứng minh nhân dân giả mang tên Trần Quốc Ph, dán hình mình và dùng giấy tờ này cầm cố xe cho ông Nguyễn Đình T, bà Trần Thị Th để chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng.

[2.3.2] Như vậy, động cơ, mục đích của bị cáo trong vụ án này không nhằm chiếm đoạt xe ô tô của ông Ph mà chỉ thông qua thủ đoạn này để chiếm đoạt tài sản của ông T, bà Th. Do đó, cần xác định ông Tiến và bà Thơ là Bị hại; còn ông Ph là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới chính xác. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ph là Bị hại, còn ông T và bà Th là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và xác định lại số tiền bị cáo Kiên chiếm đoạt của các Bị hại như sau: Chiếm đoạt của bị hại Lê Thị Kim C 150.000.000 đồng; chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thị Thu V 300.000.000 đồng; chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Đình T và Trần Thị Th 70.000.000 đồng; tổng giá trị chiếm đoạt là 520.000.000 đồng. Mặc dù với số tiền chiếm đoạt là ít hơn so với số tiền bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết là 770.450.000 đồng, tuy nhiên với tính chất, thủ đoạn phạm tội rất tinh vi và đặc biệt nguy hiểm cùng với việc nhiều lần chiếm đoạt tiền của nhiều người là thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, thì mức án 11 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thỏa đáng, không nặng.

[2.3.3] Với nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách của Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án chưa chính xác nhưng sau khi xét xử sơ thẩm những người này không kháng cáo và vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm dù đã được triệu tập 02 lần, đồng thời việc thay đổi tư cách tố tụng của những người này cũng không làm thay đổi điều, khoản mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm mà chỉ sửa lại tư cách tố tụng của đương sự và rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp sơ thẩm về nội dung này là phù hợp.

[2.3.4] Ngoài ra, tại tiểu mục 6.1 và mục 9 phần nhận định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại về dân sự giữa bị cáo và các Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là tại thời điểm trước khi mở phiên toà. Căn cứ vào điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo K không phải nộp án phí là đúng. Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng bị cáo K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bồi thường là không chính xác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Th có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về xác định lại tư cách người tham gia tố tụng và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Th về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K.

- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 11 (Mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại. Bị cáo Nguyễn Văn K có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông Trần Quốc Ph 60.000.000 đồng; bà Lê Thị Kim C 150.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thu V 180.000.000 đồng; vợ chồng ông Nguyễn Đình T và bà Trần Thị Th 25.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K không phải chịu.

- Các quyết định khác của số 48/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Th không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Ninh Th;
  • - VKSND tỉnh Ninh Th;
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Th;
  • - Công an tỉnh Ninh Th;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Th;
  • - Trại Tạm giam -Công an tỉnh Ninh Th;
  • - Lưu - NTTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 600/2024/HS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 600/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger