Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 600/2024/HS-ST

Ngày: 11-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí;

Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Lam – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 626/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 625/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc T; sinh năm 1986 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: 193/19/2, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trần Gia T1, sinh năm 1955 (Còn sống), họ tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1956 (đã chết), Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 04, có vợ tên Lê Nguyễn Phúc L, sinh năm 1988 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án:

  • - Ngày 25/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự (Bản án số 84/2020/HSST).
  • - Ngày 15/12/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự (Bản án số 691/2020/HSST).
  • - Ngày 19/3/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trốn khi đang áp giải” quy định tại Điều 386 Bộ luật hình sự (Bản án số 155/2021/HSST). Tổng hợp hình phạt của Bản án số 84/2020/HSST và Bản án số 691/2020/HSST, tổng cộng 03 năm 02 tháng tù. Ngày 19/8/2023, T thi hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 12/8/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 472/2013/HSST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2015. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm. Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại số tiền 17.550.000 đồng (Mười bảy triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng bị hại không làm đơn yêu cầu thi hành án nên Cơ quan thi hành án không thụ lý và tổ chức thi hành án. Do đã hết thời hiệu thi hành án (05 năm) nên bị cáo được xoá án tích theo quy định tại khoản 1 Điều 3, Nghị quyết 03/2024 ngày 10/6/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao và khoản 5 Điều 3; Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/5/2024, sau đó chuyển tạm giam ngày 05/6/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

  1. Ông Lâm Sơn B, sinh năm 1964.
  2. Anh Lâm Quang K, sinh năm 1996.

Cùng địa chỉ: Số H, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về tội “Trộm cắp tài sản”.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 60F4-021.64 đi qua nhà ông Lâm Sơn B (sinh năm 1964) tại địa chỉ: số H, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì thấy không có người ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đến tiệm bán dụng cụ cơ khí tại chợ B3 mua 01 cây xà beng (dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 02cm) với giá 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng) làm dụng cụ cạy phá cửa. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, T đem theo cây xà beng đến nhà ông B dùng xà beng cậy phá khóa cửa sau đột nhập vào nhà. Khi vào nhà, T lên lầu 1 vào phòng anh Lâm Quang K (con trai ông B) lấy trộm 01 nhẫn, 01 dây chuyền bằng vàng trắng, 01 laptop hiệu Dell, 01 loa nghe nhạc, 01 đồng hồ đeo tay nam hiệu Heritor và 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Armitron. Tiếp theo, T vào phòng của vợ chồng ông B lấy trộm 01 vòng, 02 nhẫn kiểu, 01 lắc, 01 đôi bông tai, 01 dây chuyền (gắn với mặt dây chuyền) bằng vàng 16K. Sau đó, T đi xuống tầng trệt ở phòng khách tiếp tục lấy trộm của ông B 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus và 03 đồng hồ đeo tay nam gồm: 01 cái hiệu Citizen và 02 cái hiệu Gucci. Sau khi chiếm đoạt được số tài sản nêu trên, T cất giấu vào trong cốp xe biển số 60F4-021.64 và đem theo cây xà beng rồi rời đi. Trên đường đi, do lo sợ điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus có cài đặt định vị nên T đã vứt bỏ điện thoại ở cầu H và vứt bỏ cây xà beng ở khu vực Ngã 4 Cổng 2 thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. T bán laptop hiệu Dell cho 01 người đi đường (không rõ lai lịch) với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T về phòng trọ do T thuê và ở cùng chị Nguyễn Minh T2 (sinh năm 1980) tại khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. T lấy tài sản trộm được ra kiểm đếm thì thấy rơi mất 02 cái đồng hồ hiệu Heritor và C. Toản chia số nữ trang làm 02 phần gồm 01 phần là vàng 18K và 16K và 01 phần là vàng trắng cho vào 02 túi ni lông cất giấu trong người, còn lại 03 đồng hồ và loa nghe nhạc, T cất giấu tại phòng trọ. Lúc này, T2 đang ngủ, T gọi Tuyền dậy rủ đi về nhà ba, mẹ T2 ở phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 60F4- 021.64 chở T2 về nhà ba mẹ T2. Trên đường đi T đưa số nữ trang bằng vàng 18K, 16K (gồm: 01 vòng, 02 nhẫn kiểu, 01 lắc tay, 01 đôi bông tai, 01 dây chuyền và mặt dây chuyền) cho T2 nói vàng của người thân nhờ bán. T2 đem vào tiệm vàng “B" tại khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1983 làm chủ) bán được 34.750.000 đồng (Ba mươi tư triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, T đưa số nữ trang bằng vàng trắng (gồm: 01 nhẫn, 01 dây chuyền) cho T2 đem đến bán tại tiệm V" ở khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do chị Phạm Thị Kim O, sinh năm 1959 làm chủ), bán được 22.040.000 đồng (Hai mươi hai triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng). T2 đã đưa toàn bộ số tiền bán vàng là 56.790.000 đồng (Năm bảy triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng) cho T. T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết 48.990.000 đồng (Bốn tám triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng), còn lại 7.800.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm nghìn đồng) bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, gia đình ông B đã đến Công an phường B trình báo sự việc. Công an phường B lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

2. Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Khoảng 13 giờ ngày 25/5/2024, T liên hệ với người phụ nữ tên T3 “mập” (không rõ lai lịch) qua số thuê bao 0819171831 hỏi mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để sử dụng, T3 “mập” đồng ý và hẹn T đến khu vực chợ H2 thuộc phường H, thành phố B để nhận ma tuý. T thuê xe grap đến địa điểm nêu trên gặp T3 “mập” mua gói ma tuý. Sau đó, T cất giấu gói ma tuý nêu trên vào túi quần phía sau bên phải T đang mặc đi về phòng trọ tại khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, T lấy một phần ma tuý ra sử dụng một mình, phần còn lại T tiếp tục cất giấu trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc.

Ngày 26/5/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt giữ và thu giữ 01 gói ma tuý trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc. Tại cơ quan điều tra Trần Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng của vụ án:

  • - 01 xe mô tô biển số: 60F4-021.64.
  • - 01 đồng hồ đeo tay hiệu Armitron, 02 đồng hồ đeo tay hiệu Gucci, 01 loa nghe nhạc là tài sản T trộm tại nhà ông B chưa bán được và số tiền 7.800.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm nghìn đồng) là số tiền bán nữ trang Toản trộm được chưa tiêu xài hết. Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho bị hại.
  • - 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy của T tàng trữ với mục đích sử dụng.
  • - 01 khẩu súng hiệu “KUZEY – 911SX” có 06 viên đạn.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 8663760407075574; 01 điện thoại di động hiệu Smart Phone, số Imei 359863051205514; 01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Pro, số I 356446086231565 là tài sản riêng của T, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - 01 xà beng T dùng làm công cụ phá khóa nhà ông B và điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Toản vứt bỏ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • - 01 điện thoại hiệu Samsung T sử dụng để liên lạc mua ma tuý, sau đó đã bán cho một người (không rõ lai lịch) nên không thu giữ được.
  • - 01 bảng kê tài sản T bán vàng cho tiệm vàng "B".
  • - 03 đoạn video: 01 đoạn video ghi lại hình ảnh T đi vào nhà ông B trộm cắp tài sản; 01 đoạn video ghi lại hình ảnh T và T2 đi bán vàng tại tiệm vàng “B” và 01 đoạn video T và T2 bán vàng tại tiệm vàng “K".

Quá trình điều tra xác định:

- Xe mô tô biển số 60F4-021.64 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Minh T2. Ngày 25/6/2024, T2 cho T mượn xe mô tô nêu trên sử dụng và không biết T sử dụng đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nêu trên cho chị T2.

- Số vàng mua của T, chủ tiệm vàng “Bảo Giang” và “Kim Hưng P1" đã chế tác lại thành vàng nguyên liệu nên không thu hồi được.

* Tại Kết luận giám định số 3552/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C1 kết luận 01 khẩu súng hiệu “KUZEY - 911SX” có 06 viên đạn là súng và đạn công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng. T khai nhặt được ngày 23/5/2024 tại đường N thuộc Phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên cất giấu để khi xảy ra đánh nhau thì sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 161 ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: 01 vòng vàng và 02 nhẫn vàng 18K trị giá 29.535.000 đồng (Hai mươi chín triệu, năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

  • - 01 lắc vàng và bông tai vàng 18K trị giá 4.851.000 đồng (Bốn triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
  • - 01 dây chuyền vàng và 01 mặt dây chuyền vàng 16K trị giá 7.849.000 đồng (Bảy triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng). 01 nhẫn vàng trắng có đính hột vàng 18K trị giá 12.054.4840 đồng (Mười hai triệu không trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm tám tư đồng).
  • - 01 dây chuyền vàng trắng 10K trị giá 10.049.670 đồng (Mười triệu, không trăm bốn mươi chín nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng).
  • - 01 đồng hồ đeo tay Gucci 5500XL trị giá 2.564.102 đồng (Hai triệu, năm trăm sáu mươi tư nghìn, một trăm linh hai đồng).
  • - 01 đồng hồ đeo tay Gucci 5500M trị giá 3.179.500 đồng (Ba triệu, một trăm bảy mươi chín nghìn, năm trăm đồng).
  • - 01 đồng hồ đeo tay Armitron75/5699 trị giá 735.000 đồng (Bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
  • - 01 loa nhạc di động trị giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Đối với 01 đồng hồ đeo tay hiệu Citizen, 01 đồng hồ đeo tay H, 01 điện thoại di động Iphone 6 plus và 01 máy tính xách tay Dell. Do tài sản chưa thu hồi, không rõ model, chủng loại, cấu hình nên không đủ cơ sở định giá. Tổng trị giá tài sản do T chiếm đoạt là 71.117.756 đồng (Bảy mươi mốt triệu, một trăm mười bảy nghìn, bảy trăm năm mươi sáu đồng).

* Tại Kết luận giám định số 1237/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

- Mẫu chất màu trắng được gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 2,884 gam, loại Methamphetamine.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ông Lâm Sơn B yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 42.235.000 đồng (Bốn hai triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Anh Lâm Quang K yêu cầu bồi thường số tiền 23.139.154 đồng (Hai mươi ba triệu, một trăm ba chín nghìn một trăm năm tư đồng). Đến nay T vẫn chưa bồi thường cho ông B và anh K.

Quá trình điều tra xác định:

- Chị Hồ Thị Bảo G (tiệm vàng “Bảo Giang”) và chị Mai Thị R (là nhân viên tiệm vàng "Kim Hưng P1") không biết số vàng T2 đem đến bán là tài sản do T phạm tội mà có. T và T2 đều khai: T nói với T2 là số vàng của người thân nhờ bán và T2 không biết số nữ trang đem đi bán là tài sản do T phạm tội mà có. Số tiền bán được T2 đưa cho T, không được hưởng lợi.

- Quá trình điều tra, anh K khai tài sản bị lấy trộm còn có 01 đôi bông tai và 01 vòng đeo tay (lắc) bằng vàng trắng nhưng T không thừa nhận, lời khai của người mua vàng chị Hồ Thị Bảo G tiệm vàng “Bảo Giang" và chị Mai Thị R tiệm vàng “Kim Hưng P1" không mua số tài sản nêu trên nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định T đã trộm số tài sản nêu trên.

- Qua tra cứu số điện thoại T liên lạc với T3 “mập” để mua ma tuý là số thuê bao 0819171831 do Nguyễn Ngọc T3, có số chứng minh [...], thường trú tại ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai là chủ thuê bao. Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 618/CT/VKSBH-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trần Quốc T về các tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g, Khoản 2 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173, điểm o, Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Quốc T mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do; Tuy nhiên, đã có lời khai đầy đủ của bị hại, đã có yêu cầu cụ thể về phần dân sự trong hồ sơ nên việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận:

Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 25/5/2024 tại nhà số H, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo đã có hành vi trộm cắp: 01 vòng vàng và 02 nhẫn vàng 18k, 01 lắc vàng và bông tai vàng 18K, 01 dây chuyền vàng và 01 mặt dây chuyền vàng 16K, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Gucci 5500XL, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Gucci 5500M, 01 đồng hồ hiệu Citizen, 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus với tổng trị giá 47.978.602 đồng (Bốn bảy triệu, chín trăm bảy tám nghìn, sáu trăm linh hai đồng) của ông Lâm Sơn B; trộm 01 nhẫn vàng trắng có đính hột vàng 18K, 01 dây chuyền vàng trắng 10K, 01 đồng hồ hiệu Heritor, 01 đồng hồ đeo tay A, 01 loa nghe nhạc di động, 01 máy tính xách tay hiệu Dell với tổng trị giá 23.139.154 đồng (Hai ba triệu, một trăm ba chín nghìn một trăm năm tư đồng) của anh Lâm Quang K. Trong đó có 01 đồng hồ đeo tay C, 01 đồng hồ đeo tay H, 01 điện thoại di động Iphone 6 plus và 01 máy tính xách tay Dell do không có giấy tờ, không xác định được model, chủng loại, cấu hình nên không đủ cơ sở để xác định giá. Tổng giá trị tài sản do T chiếm đoạt là 71.117.756 đồng (Bảy mươi mốt triệu một trăm mười bảy nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng).

Vào lúc 13 giờ cùng ngày, T còn có hành vi tàng trữ 2,918 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai của bị hại và những người người làm chứng.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Quốc T đã phạm vào các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm c, g khoản 2 Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 618/CT/VKSBH-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại và chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy được Nhà nước bảo vệ, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết việc lén lút trộm cắp tài sản của người khác và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân:

Bị cáo có nhân thân xấu. Đã nhiều lần phạm tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng:

Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô biển số: 60F4-021.64 là tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T2, chị T2 cho T mượn nhưng không biết việc T sử dụng xe trên vào mục đích đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị T2 là phù hợp.
  • - Đối với 01 đồng hồ đeo tay hiệu Armitron, 02 đồng hồ đeo tay hiệu Gucci, 01 loa nghe nhạc là tài sản T trộm tại nhà ông B chưa bán được và số tiền 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng) là số tiền bán nữ trang Toản trộm được chưa tiêu xài hết. Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho bị hại là phù hợp.
  • - Đối với 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy (sau giám định được niêm phong số 1227/KL – KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ) cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 khẩu súng hiệu “KUZEY – 911SX” có 04 viên đạn (02 viên đã bắn thực nghiệm) cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 8663760407075574; 01 điện thoại di động hiệu Smart Phone, số Imei 359863051205514; 01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Pro, số I 356446086231565 là tài sản riêng của T, không liên quan đến hành vi phạm tội cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với 01 xà beng T dùng làm công cụ phá khóa nhà ông B và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Toản vứt bỏ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • - Đối với 01 điện thoại hiệu Samsung T sử dụng để liên lạc mua ma tuý, sau đó đã bán cho một người (không rõ lai lịch) nên không thu giữ được.
  • - Đối với 01 bảng kê tài sản T bán cho tiệm vàng "Bảo Giang” cần lưu vào hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 03 đoạn video: 01 đoạn video ghi lại hình ảnh T đi vào nhà ông B trộm tài sản; 01 đoạn video ghi lại hình ảnh T và T2 đi bán vàng tại tiệm vàng “B” và 01 đoạn video T và T2 bán vàng tại tiệm vàng “K” cần lưu vào hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự và các vấn đề khác của vụ án:

Bị hại ông Lâm Sơn B yêu cầu cầu T bồi thường tổng số tiền 42.235.000 đồng (Bốn hai triệu, hai trăm ba lăm nghìn đồng). Anh Lâm Quang K yêu cầu bồi thường số tiền 23.139.154 đồng (Hai ba triệu, một trăm ba chín nghìn một trăm năm tư đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại nên ghi nhận.

- Chị Hồ Thị Bảo G (tiệm vàng “Bảo Giang”) và chị Mai Thị R (là nhân viên tiệm vàng "Kim Hưng P1") không biết số vàng T2 đem đến bán là tài sản do T phạm tội mà có. T và T2 đều khai: T nói với T2 là số vàng của người thân nhờ bán và T2 không biết số nữ trang đem đi bán là tài sản do T phạm tội mà có. Số tiền bán được T2 đưa cho T, không được hưởng lợi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với chị G, chị R và chị T2 là phù hợp.

- Quá trình điều tra, anh K khai tài sản bị lấy trộm còn có 01 đôi bông tai và 01 vòng đeo tay (lắc) bằng vàng trắng nhưng T không thừa nhận, lời khai của người mua vàng chị Hồ Thị Bảo G tiệm vàng “Bảo Giang" và chị Mai Thị R tiệm vàng “Kim Hưng P1" không mua số tài sản nêu trên nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xác định T đã trộm số tài sản nêu trên là phù hợp.

- Qua tra cứu số điện thoại T liên lạc với T3 “mập” để mua ma tuý là số thuê bao 0819171831 do Nguyễn Ngọc T3, có số chứng minh [...], thường trú tại ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai là chủ thuê bao. Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

[8] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: Xử phạtphạt bị cáo Trần Quốc T 04 (B2) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (S) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 10 (M) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14: Buộc bị cáo Trần Quốc T phải bồi thường cho ông Lâm Sơn B số tiền 42.235.000 đồng (Bốn mươi hai triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và anh Lâm Quang K số tiền 23.139.154 đồng (Hai mươi ba triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, một trăm năm mươi tư đồng).

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 1227/KL – KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, 01 khẩu súng hiệu “KUZEY – 911SX” và 04 viên đạn.
  • - Tiếp tục tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 8663760407075574; 01 điện thoại di động hiệu Smart Phone, số Imei 359863051205514; 01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Pro, số I 356446086231565 là tài sản riêng của Trần Quốc T, không liên quan đến hành vi phạm tội để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 10 năm 2024).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.269.000 đồng (Ba triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015P: Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Công an TP. Biên Hòa (2);
  • - Thi hành án hình sự (5);
  • - Bị cáo, đương sự (5);
  • - Lưu VP - Hồ sơ vụ án (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thúy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Trần Hữu Hậu Trần Thị Thúy
Nguyễn Thị Ngọc H1

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Hoàng P2
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 600/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 600/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Toản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger